31/10/2019 - 09:48

Chất lượng nước luôn được giám sát

TTH - Thiên tai, dịch họa và cả con người đã và đang là nhân tố tác động, ảnh hưởng đến nguồn nước và an ninh nước.

Cải tạo bể lắng nguyên đơn 1 tại Nhà máy Quảng Tế 1

Để nước luôn sạch

Chưa bao giờ hạn hán lại tác động tiêu cực đến nguồn nước như năm 2019. Nhiều hệ thống sông, suối khô cạn, trong khi nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt ngày một tăng khiến các nhà máy cấp nước (NM) phải hoạt động hết hoặc vượt công suất thiết kế. Thậm chí nhiều vùng đã xảy ra tình trạng xung đột nguồn nước giữa nhu cầu phát triển kinh tế tới với hoạt động cấp nước.

Sự việc tranh chấp nguồn nước diễn ra trong tháng 8/2019 tại khu vực suối Voi là ví dụ. Do nguồn nước khô cạn không đủ đáp ứng nhu cầu kinh doanh, một số hộ dân kinh doanh dọc suối Voi sử dụng bạt che lấp điểm lấy nước tại NM Chân Mây khiến nguồn nước về NM bị thiết hụt, buộc NM và người dân phải vận hành theo nguyên tắc chia sẻ nguồn nước.

Theo kinh nghiệm vận hành hơn 20 năm của ông Trần Bình Phương, Tổ trưởng tổ quản lý vận hành NM Chân Mây, đây là năm nguồn nước đầu vào thiết hụt nghiêm trọng nhất. Mọi năm, công ty chỉ cần thu khoảng 20% đến 40% lượng nước qua đập phục vụ sản xuất nước sạch thì thời điểm này lượng nước thu chiếm gần 60% đến 70% lượng nước qua đập.

Thi công tuyến ống thuộc dự án ADB giúp nâng cao tỷ lệ người dùng nước sạch

Thống kê của HueWACO cũng cho thấy, 2019 là năm nhu cầu dùng nước tăng cao nhất từ trước đến nay. Sản lượng nước sản xuất đạt mức kỷ lục 201.505 m3/ngày đêm, vượt 22.011 m3/ngày đêm (11,15%) so với ngày cao điểm 2018. Hiện tại, các NM của công ty đã vận hành vượt công suất, kể cả công suất tạm thời.

Trong khi đó, theo quy hoạch, năm 2020, HueWACO phải trả lại NM Dã Viên cho tỉnh để thực hiện quy hoạch khu du lịch. Các NM Quảng Tế, Phú Bài, Hòa Bình Chương phải ngưng vận hành để đảm bảo chất lượng nước.

Việc ngừng hoạt động 4 nhà máy này sẽ khiến khu vực thành phố Huế và vùng phụ cận thiếu nước từ 76.000 đến 82.000 m3/ngày đêm dẫn đến nguy cơ mất an toàn, an ninh nước của tỉnh nói chung, thành phố Huế và phụ cận nói riêng.

Ông Trương Công Nam, Chủ tịch HĐQT HueWACO lý giải, bên cạnh việc thiếu công suất xử lý, dung tích bể chứa chưa đáp ứng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro cho khu vực thành phố và phụ cận. Hiện, dung tích bể chứa bền vững tại 4 NM Quảng Tế 1, 2, Tứ Hạ, Phú Bài chỉ 17.300m3, chỉ đáp ứng nhu cầu cấp nước trong khoảng 2,5 giờ, nguy cơ mất an ninh nước luôn thường trực.

Chủ tịch Hội đồng Quản trị HueWACO nhớ lại, thời điểm cuối năm 2009 đầu năm 2010, các thông số đo đạc cho thấy, chất lượng nước sông Hương, nhất là nhánh Hữu Trạch suy giảm nghiêm trọng. Kéo theo, chất lượng nước ở các NM Vạn Niên, Dã Viên, Bình Thành... bị ảnh hưởng nước có mùi hôi, lượng sắt, mangan tăng cao. Nguyên nhân ban đầu được xác định là do, thuỷ điện Bình Điền khi đưa vào vận hành (tháng 5/2009) không làm sạch thảm thực vật ở lòng hồ và thiết kế thiếu van xả đáy. Việc này dẫn đến, nguồn nước thiếu ôxy, nguồn nước sông Hương không thể tự thanh lọc…

Lúc bấy giờ, công ty phải tăng cường súc rửa đường ống, đổi mới công nghệ, tăng hoá chất xử lý như dùng than hoạt tính để loại bỏ bớt mùi hôi và độc chất; sử dụng polymer nhằm tăng hiệu quả lắng; tăng cường xử lý javel, soda ở công đoạn đầu để loại bỏ bớt sắt và mangan; mua thêm cát mangan để lọc nước... mới đảm bảo cấp nước an toàn.

Công nhân các nhà máy được đào tạo kỹ năng quản lý vận hành

Đảm bảo an ninh nước

Theo ông Mai Xuân Tấn, Phó Trưởng phòng Quản lý chất lượng nước HueWACO, nguy cơ mất an ninh, an toàn nguồn nước luôn thường trực. Vì thế, công ty đã triển khai nhiều giải pháp trong đó quan trọng nhất là việc ngừng hoạt động các NM ở khu vực hạ lưu các con sông nhằm giảm thiểu tác động của nước thải sinh hoạt, sản xuất kinh doanh và tác động bất lợi do con người tạo nên. Trên mỗi lưu vực sông đều có các điểm giám sát, hàng tháng đều lấy mẫu nước ở những điểm giám sát này để thực hiện các xét nghiệm chất lượng nước liên quan. Hiện trên các lưu vực có 24 điểm giám sát chất lượng nước nguồn. Vì thế, khi nguồn nước có những thay đổi về chất lượng, công ty sẽ có những giải pháp tương ứng để khắc phục.

Vấn đề giám sát chất lượng nguồn nước đầu vào cũng được thực hiện nghiêm túc thông qua việc thiết kế các phao chắn dầu, nuôi cá chỉ thị (rất nhạy với sự thay đổi nguồn nước) ngay bể chứa dẫn nước nguồn trước khi vào các bể lắng, lọc. Khi đầu vào nguồn nước không đảm bảo cá nuôi sẽ có những biểu hiện lờ đờ, chết. Từ đó, công ty có giải pháp khắc phục. Chất lượng nước đầu ra được giám sát trên hệ thống online, các thông số chất lượng nước được cập nhật liên tục. Từng công đoạn lắng, lọc đều có các thiết bị giám sát. Hàng tuần, các NM đều phải tổng hợp lấy mẫu nước đưa tới Phòng Quản lý chất lượng nước để phân tích các chỉ tiêu.

Theo ông Tấn, hiện mỗi NM đều có kế hoạch cấp nước an toàn, đưa ra các mối nguy và giải pháp khắc phục. Mỗi công nhân và NM đều có sổ tay vận hành xử lý nước, hướng dẫn công nhân xử lý các tình huống khẩn cấp khi sự cố xảy ra ngay tức thì nhằm hạn chế rủi ro.

Huewaco là đơn vị đầu tiên triển khai thành công mô hình nước sạch uống tại vòi. Ảnh: HOÀNG HẢI

Để đối phó với sự suy giảm chất lượng nước, các giải pháp công nghệ như bể lắng lọc thông minh xử lý nguồn ô nhiễm vô cơ, bể lắng tiếp xúc sinh học xử lý nguồn ô nhiễm hữu cơ, giải pháp xử lý sắt mangan, điều chế muối điện phân javen… cũng được ứng dụng. Các giải pháp bổ cập nước ngầm trong mùa mưa và tái sử dụng trong mùa nắng nóng cũng hạn chế được tình trạng khan hiếm nguồn nước, không ảnh hưởng đến an ninh nước khi hạn hán kéo dài.

Nhờ đó, chất lượng nước luôn đảm bảo với độ đục giảm 8,5 lần (0,02/0,19 NTU) so với 2007, thấp hơn 100 lần QĐ của BYT (0,02/2 NTU); Fe giảm 4 lần (0,010/0,040 mg/l) so với 2007, thấp hơn 30 lần QĐ của BYT (0,01/0,3 mg/l); Mn giảm 3 lần (0,001/0,003 mg/l) so với 2007, thấp hơn 300 lần QĐ của BYT (0,001/0,3 mg/l)

Theo ông Trương Công Nam, nâng cao chất lượng và số lượng người dân sử dụng nước sạch là giải pháp quan trọng nhất đảm bảo an ninh nước. Đó cũng là lý do công ty thực hiện dự án ADB (vay vốn Ngân hàng Phát triển châu Á). Dự án đã xây dựng được hạ tầng kỹ thuật cấp nước thông minh, đồng bộ, bền vững và hiệu quả; cấp nước an toàn, đảm bảo an ninh nước sạch cho trên 90% dân số vào năm 2020 (trên 1,05 triệu người).

Thực hiện quy hoạch cấp nước, công ty đã và đang đầu tư NM Vạn Niên giai đoạn 1, với công suất 120.000 m3/ngày đêm, bể chứa 40.000m3 và bể chứa tạo áp 60.000m3 ở đồi Quảng Tế 3, nâng tổng sức chứa an toàn bền vững của khu vực Huế lên 117.300m3, tăng thời gian chứa nước từ 2,5h lên 18,5h, nâng cao độ an toàn, an ninh nước đảm bảo cấp nước cho TP. Huế và vùng phụ cận.

Cũng theo ông Nam, an ninh nước sạch là hai vấn đề tổng hợp giữa an ninh nguồn nước và an toàn nguồn nước. Để đảm bảo an ninh nước sạch cần có sự vào cuộc đồng bộ phối hợp thường xuyên của chính quyền địa phương, sở ngành liên quan và cả người dân. Thừa Thiên Huế là đơn vị đầu tiên trong cả nước thành lập Ban chỉ đạo cấp nước an toàn, tuy nhiên công tác phối hợp chưa tốt. Vì thế, để đảm bảo an ninh nước sạch, các đơn vị liên quan cần phối hợp, nhất là giám sát chất lượng nước đầu vào, ngoại kiểm và đảm bảo an toàn nguồn nước.

Bài, ảnh: HOÀNG LOAN

Chia sẻ bài viết


ĐỒNG HÀNH CÙNG DOANH NGHIỆP