31/08/2015 - 09:59

Để có thắng lợi Cách mạng Tháng Tám 70 năm trước

TTH - Một ngày đầu Tháng Tám lịch sử này, tôi lại gặp Đặng Văn Việt. Ông vào Huế “đóng phim”! Sự kiện Đặng Văn Việt và Nguyễn Thế Lương (sau này trở thành tướng Cao Pha) kéo cờ đỏ sao vàng lên Kỳ đài Huế ngày 21/8/1945 đã đi vào lịch sử, đã được báo chí và Đài Truyền hình đưa lên nhiều lần, nhưng lần này, kỷ niệm 70 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, hình ảnh ngọn cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên tung bay trên kinh thành Huế, thay thế cờ quẻ ly của nhà vua, báo hiệu sự kết thúc triều đại phong kiến và mở đầu thời đại mới của dân tộc không thể thiếu trong chương trình lớn ngày đại lễ, nên Đài Truyền hình Việt Nam lại mời Đặng Văn Việt vào Huế dự lễ.
 
 

Ảnh tư liệu

Về sự kiện này, dù đã kể nhiều lần, đến nay Đặng Văn Việt bỗng “tự phát hiện” ra một cách nhìn mới, hàm chứa nhiều ý nghĩa. Ông “khoe” với tôi bài viết dự cuộc thi “Hồi ức cuộc đời” do báo “Người cao tuổi” tổ chức, tay níu vai tôi, vừa đọc, vừa giảng giải thêm: “Bài dự thi này, nếu được giải nhất là 10 triệu đó! Phê nghe đây, lần này mình coi như là một trận đánh…”

Cũng là câu chuyện 70 năm trước, nhưng Đặng Văn Việt mở đầu một cách khá đặc biệt, với những đề mục chữ đậm và “gạch đầu dòng” như là một “đề cương” báo cáo:
“Tương quan lực lượng:
- Binh hỏa lực của ta: Hai ngự lâm quân: Đặng Văn Việt và Nguyễn Thế Lương. Một barillet và 6 viên đạn xịt.
-Binh hỏa lực của đối phương: (Vua Bảo Đại – Nam Phương Hoàng hậu có mặt.)
+ 1 thầy đội. 1 lãnh binh, 12 lính dõng, 12 súng mútcơtông;
+ Một đại đội khố vàng, 120 súng mútcơtông;
+ 10 khẩu pháo đùng, 10 khẩu thần công (200 ly).
Kết quả:
+ Hạ được cờ nhà vua, treo cờ cách mạng mở trang sử mới, ngai vàng sụp đổ.
+ Thương vong: 0/0….”
Là vị chỉ huy đã đánh cả trăm trận trong kháng chiến chống Pháp, Đặng Văn Việt dễ dàng trình bày sự kiện “kéo cờ” thành một trận đánh và rất chí thú với kết quả thương vong cả hai phía là “0/0”.

Ông Đặng Văn Việt (bên phải) và ông Phan Tân Hội (con trai Luật sư Phan Anh) trước Bia Di tích Trường Thanh niên tiền tuyến Huế.

 
Riêng tôi, lại nghĩ đến vấn đề hệ trọng hơn là vì sao không chỉ “trận đánh” bên Kỳ Đài Huế ngày 21/8/1945 thắng lợi một cách ngoạn mục mà hầu như trên khắp đất nước, cuộc cách mạng vào những ngày tháng 8/1945 đều thắng lợi mà không phải đổ nhiều máu?
Đã đành, một sự kiện lớn như Cách mạng Tháng 8/1945 thành công có nhiều nguyên nhân, ví như nhờ Việt Minh khéo chớp thời cơ phe Đồng minh thắng phát xít Nhật, quân Pháp sau ngày Nhật đảo chính thì đã mất hết nhuệ khí…Nếu vậy thì vì sao nhiều nước có điều kiện tương tự lại không giành được độc lập dịp đó như Việt Nam?
Mở lại những trang sử về giai đoạn đặc biệt đó của dân tộc Việt Nam, tôi đã tìm thấy câu trả lời đích đáng, khi đọc lại “THƯ GỬI ĐỒNG BÀO” của Nguyễn Ái Quốc, viết ngày 6/6/1941. Xin được trích vài đoạn văn kiện quan trọng này:
“Cùng các vị phụ lão!
Cùng các vị chí sĩ!
Cùng các giới sĩ, nông, công, thương, binh!
Cùng toàn thể đồng bào yêu quý!
… Hơn hai mươi triệu con Hồng cháu Lạc, quyết không chịu làm nô lệ cho người mãi thế. Bảy tám chục năm nay, dưới gót sắt của giặc Pháp, chúng ta đã không ngừng hy sinh phấn đấu để giành độc lập tự do cho dân tộc ta. Tinh thần anh dũng của các bậc tiền bối Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Lương Ngọc Quyến, vẫn đây; sự tích của các nghĩa sĩ Thái Nguyên, Yên Bái, Nghệ Tĩnh còn mãi…
...Hỡi đồng bào yêu quý! Mấy trăm năm trước, đúng lúc nước ta gặp nguy lớn vì quân Nguyên xâm lấn cõi bờ, các cha ông đời Trần đã hăng hái kêu gọi con em cả nước nhất tề giết giặc, và cuối cùng đã cứu được dân ta khỏi bước nguy nan, để danh thơm muôn thuở…
… Hỡi tất cả các phú hào, binh sĩ, thợ thuyền, dân cày, nhà buôn, công chức, thanh niên, phụ nữ một lòng yêu nước!
Giờ đây công cuộc giải phóng dân tộc là cao hơn tất cả!
…Thời cơ đã đến! Hãy giương cao cờ nghĩa, lãnh đạo Nhân dân cả nước đánh đổ Pháp, Nhật! Tiếng gọi thiêng liêng của Tổ Quốc đang vang dội bên tai chúng ta! Máu nóng của các bậc tiên liệt đang sôi sục trong tim chúng ta!...”
Hơn 70 năm đã qua, từ ngày “tiếng gọi thiêng liêng” ấy được truyền đi khắp đất nước mà hôm nay đọc lại, lòng vẫn xúc động, vẫn muốn đứng lên, gạt bỏ mọi trở ngại, tiến bước theo gương các vị tiền bối khi đất nước còn nô lệ. Chỉ riêng mấy hàng mở đầu bức thư, với sự trọng thị trước hết dành cho các vị phụ lão, các chí sĩ rồi mới đến sĩ, nông… chứng tỏ đức độ, nhân cách của lãnh tụ, đã có sức hấp dẫn lớn lao đối với quần chúng Nhân dân. Hơn thế, sau khi kêu gọi Nhân dân “Người có tiền góp tiền, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng”, bức thư đã viết: “…Ái Quốc tôi nguyện mang hết sức của tuổi già đi theo các vị, dầu cho thịt nát xương tan cũng không tiếc”. Trước lời thề quyết liệt mà khiêm tốn như thế của lãnh tụ, người có lòng yêu nước, không ai có thể khoanh tay ngồi yên khi thời cơ đến.
Bức thư cũng chứng tỏ những người cách mạng luôn trân trọng và không bao giờ quên lịch sử chống ngoại xâm hào hùng của dân tộc, từ thời Trần với chiến thắng vĩ đại đánh bại quân Nguyên - Mông cho đến khởi nghĩa Phan Đình Phùng, Yên Bái… Và quan trọng hơn nữa, có thể nói bức thư lần đầu tiên đã thể hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, không phân biệt giai cấp, giàu nghèo, nghề nghiệp… của Việt Minh - một chính sách được thực hiện ngay trong những ngày Cách mạng Tháng Tám và được tiếp nối trong đường lối của Chính phủ Cụ Hồ khi giặc Pháp quay trở lại hòng chiếm nước ta một lần nữa.
Chính là “Thư gửi đồng bào” nồng nhiệt, tha thiết của lãnh tụ, thể hiện rõ đường lối sáng ngời đại nghĩa cách mạng đã có sức cuốn hút mọi tầng lớp Nhân dân quanh Mặt trận Việt Minh, tạo nên sức mạnh vô địch, dù chưa có bao nhiêu súng đạn trong tay. Chính nhờ thế mà vua Bảo Đại đã không ra lệnh cho đại đội lính khố vàng nã súng vào hai sinh viên “Trường Thanh niên tiền tuyến Huế” khi họ hạ cờ quẻ ly của nhà vua và hầu như khắp mọi địa phương, những người cách mạng đã giành được chính quyền êm thấm và cuộc Cách mạng Tháng 8/1945 đã thành công trong cả nước một cách nhanh chóng, khiến nhiều người bất ngờ và thán phục.
Khi nghiên cứu những bài học từ cuộc Cách mạng Tháng Tám 70 năm trước, không thể không nhắc đến “Thư gửi đồng bào” của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc viết năm 1941. Một sự chuẩn bị cả về tư tưởng và tổ chức, một trong những nguyên nhân quan trọng đã đưa Cách mạng Tháng 8/1945 thành công trọn vẹn. Đường lối đại đoàn kết dân tộc và đức độ của lãnh tụ thể hiện qua “Thư gửi đồng bào” 74 năm trước vẫn là tấm gương sáng, là bài học quý giá cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trước không ít thách thức hiện nay…

Nguyễn Khắc Phê

Chia sẻ bài viết


ĐỒNG HÀNH CÙNG DOANH NGHIỆP