21/11/2013 - 06:16

Di sản cuối cùng về Liệt nữ Ấu Triệu ở Huế - Kỳ 3: Giữ nhà cho cô Đàn

TTH -


Hơn một thế kỷ sau khi hy sinh, ngôi nhà - nơi bà Đàn từng sinh sống ở địa chỉ 127 Đặng Tất (Hương Vinh - Hương Trà) vẫn được con cháu giữ gìn như một báu vật.

 

Sau khi di hài bà Lê Thị Đàn được đưa về Huế, theo chân hậu duệ của bà, lần đầu tiên chúng tôi được đặt chân vào ngôi nhà. Đó là ngôi nhà tranh đơn sơ một gian hai chái với hàng cột gỗ đen bóng. Trên bàn thờ vừa có thêm một bát nhang mới dành cho bà Đàn. Không di ảnh. Thay vào đó là một viên gạch xưa và mảnh chén vỡ. Hai di vật được tìm thấy trong mộ của Ấu Triệu trong quá trình khai quật gần nhà tù Lao Bảo (Quảng Trị).

Ngôi nhà (127 Đặng Tất, Hương Vinh, Hương Trà), nơi bà Lê Thị Dàn từng sống- vừa được con cháu tu sửa (ảnh lớn). Ảnh: K.Oanh

 
Ông Lê Văn Sinh (sinh năm 1932), người gọi bà Đàn bằng cô ruột ngậm ngùi: “Rứa là cô đã có nơi chốn để hương khói, thờ tự. Bao nhiêu năm nay, con cháu nhớ thương nhưng chưa tìm được hài cốt nên chỉ thờ vọng cô một cái am đặt ngoài trời”. Anh Lê Văn Phúc (sinh năm 1964, cháu bốn đời của bà Đàn) cho hay, quyết tâm lắm, gia đình mới giữ được ngôi nhà nguyên vẹn cho đến ngày nay.
 
Con cháu đông, nhu cầu sử dụng nhà ngày càng bức bách, anh em mấy lần họp bàn tính chuyện sửa nhà, xây mới. Bàn mấy lượt nhưng cuối cùng, con cháu cam phận ở nhà chật, với tâm nguyện “giữ nhà cho cô Đàn”. Để giữ được nhà, ông Lê Văn Sinh và con cháu đã tìm một giải pháp tạm thời: Phủ một lớp tôn dày lên mái nhà lợp tranh. Với thời tiết khắc nghiệt của Huế, giải pháp ấy phần nào giữ cho ngôi nhà tranh hàng trăm năm tuổi đỡ mục nát, mưa dột.
 
Bây giờ cô Đàn đã “về nhà” được 5 năm. Bẵng đi 5 năm, mới đây, chúng tôi lại vào Thành Nội, ra cửa Hậu, men theo con sông Đào để tìm nhà bà. Đúng nghĩa tìm bởi chừng ấy thời gian, con đường Đặng Tất đã thực sự xô bồ, mới mẻ bởi tốc độ đô thị hóa nhanh chóng. Khu vườn rộng ở 127 Đặng Tất đã được chia nhỏ thành nhiều thửa.
 
Trong ngôi nhà xưa đã được xây gạch và lợp ngói, anh Lê Văn Khuyến, cháu bốn đời của bà Đàn cho hay, cách đây hơn 1 năm, ngôi nhà cũ xập xệ, sắp sập nên gia đình quyết định cho sửa chữa. Khi sửa, nhiều người bàn bỏ đi bộ rường trò gỗ cho rộng rãi nhưng cha anh (ông Lê Văn Sinh-PV) không chịu. Cụ nói, cái gì còn giữ được thì phải cố giữ cho người xưa.
 
Với tâm nguyện giữ nhà cho người xưa, ngôi nhà được cải tạo một cách dè dặt, tường bằng gạch thô, mái lợp ngói. Riêng cột gỗ, bộ liên ba và hệ thống cửa bản khoa vẫn được giữ nguyên. Trước nhà hãy còn bức bình phong bằng cây xanh và cây hải đường - một loài hoa thường thấy trong các gia đình danh giá xưa. Theo lời anh Khuyến, những lúc khốn khó, cây hải đường từng được nhiều người gạ mua 2 chỉ vàng nhưng cha mẹ ông nhất quyết không bán, kể cả bộ khung nhà bằng gỗ.
Liên lụy bởi án quốc sự
 
Người xưa ra đi đã ngót nghét hơn thế kỷ nhưng trong ngôi nhà này, những câu chuyện về cô Đàn vẫn được truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác. Sau cái án “quốc sự” của bà Đàn, cả dòng họ Lê gần như tan tác. Một nhánh phải dạt ra Đông Hà (Quảng Trị). Một nhánh phải khăn gói vào Nam. Nhánh còn lại bám trụ quê nhà đều bị giám sát, theo dõi chặt chẽ dưới thời Nam triều đến thuộc Pháp và thời Mỹ - ngụy. Thế nhưng theo lời anh Lê Văn Khuyến, trước khi trút hơi thở cuối cùng, ông Lê Văn Châu, anh ruột bà Đàn, đã trăn trối một điều duy nhất: Người ta chết có hương hồn mồ mả. Bằng mọi cách phải tìm cho được xác cô Đàn, thực hiện cho đủ các nghi lễ một người chết được hưởng.
 
Với di nguyện ấy, từ đời ông rồi đến đời cha, dòng họ Lê Văn đã âm thầm cải trang, đến mùa nông nhàn lại quyên góp ít tiền gạo, cử trai điền có sức khỏe ra Lao Bảo tìm kiếm di cốt bà Đàn.
 
Phần phải thực hiện bí mật vì sợ liên lụy, phần vì chiến tranh loạn lạc và sơn khê hẻo lánh, những lần tìm kiếm ấy đều bất thành... Con cháu tưởng nhớ bà, đến ngày giỗ cũng không dám tổ chức công khai. Chỉ đóng cửa, thắp lén một nén nhang. Đến nay, hầu như những tài liệu liên quan đến bà đều không có bút tích. Mọi sự việc hậu thế chỉ nghe được qua truyền miệng trong dòng tộc. Ngay cả điều này cũng rất dè dặt, phải rỉ tai nhau.
Trăn trở từ hậu thế
 
Năm 1967, trong một bài viết ca ngợi công đức bà Đàn đăng trên ấn san Đuốc Tuệ (ra ngày 4-3), tác giả Viên Giác mô tả, bà Đàn là một mỹ nhân của làng Thế Lại Thượng, sinh ra trong một gia đình nho gia thanh bạch. Lúc thiếu đời, nhờ ơn cha, bà được theo đòi nghiên bút, tỏ ra là người rất thông thái. Khi cụ Lê Xuân Uyên-thân phụ của bà- tham gia phong trào yêu nước Cần Vương, bị Pháp bắt vào nhà lao Thừa Phủ, bà thường lui tới chăm nom cha. Nhan sắc chớm nở của bà lọt vào mắt xanh ông Đốc Phủ họ Đinh người Nam Kỳ. Để cứu cha khỏi cảnh lao ngục, bà đồng ý làm vợ lẽ ông Đốc với lời hứa, ông sẽ làm mọi cách để giải cứu cho cụ Uyên. Cái tên cô Đốc theo bà từ đó.
 
Cũng theo tác giả Viên Giác, trong cuốn “Việt Nam nghĩa liệt sử” viết ở Thượng Hải-Trung Quốc, Phan Bội Châu kể lại: “Sau khoa Canh Tý tôi đậu cử nhân rồi vào Huế, nói là để học Trường Hậu Bổ để ra làm quan. Nhưng sự thực thì tôi phải tới đó để tìm kiếm những người có tư tưởng trong học giới Việt Nam lúc bấy giờ như cụ Nguyễn Thượng Hiền, Phan Châu Trinh và các sĩ phu hay nói khác hơn là để tìm đồng chí cách mạng.
 
Trên con đường từ An Hòa về thị xã Huế, tôi thường dừng lại, nghỉ chân trong một quán nước bên vệ đường. Chủ quán là một cô gái trẻ đẹp, nhưng lại gọi là “cô Đốc”. Hỏi ra mới biết cái lai lịch đáng thương và đáng kính của cô. Từ đó chúng tôi đã biến người khách hàng và cô chủ quán thành một cặp đồng chí cách mạng”.
 
Theo một tài liệu viết tay gia đình còn giữ được của một người cháu gọi bà Đàn bằng dì, sau này, Chính phủ Trần Trọng Kim từng cho đăng một bài điếu văn rất cảm động, do ông Nghè Ngô Tuyên (thân phụ liệt sĩ Ngô Kha), đồng hương cùng quê Thế Lại Thượng chấp bút. Đáng tiếc, bài điếu văn này gia đình không tìm và lưu giữ được. Nhưng chừng ấy thời gian, với hậu thế, hình bóng bà Đàn vẫn gần gũi trong hồi ức của con cháu.
 
Thế nhưng, hơn một thế kỷ sau cái chết của bà, ngoài tên đường Ấu Triệu được đặt ở TP Huế và Thủ đô Hà Nội, không mấy ai biết đến cái tên Lê Thị Đàn. Do điều kiện lịch sử lúc bấy giờ, nhân vật Lê Thị Đàn hầu như không có tên trong chính sử và tư liệu để lại chỉ gói gọn trong một vài di bút của cụ Phan. Ngay cả những di sản cuối cùng của bà ở Huế, đến nay chẳng mấy ai hay.
 
Và ngôi nhà của bà ở thôn Thế Lại Thượng, nếu không có sự quan tâm bảo tồn từ nhà nước, liệu con cháu họ Lê Văn ở đây có thể gìn giữ được đến bao giờ?
PGS.TS Đỗ Bang - Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Thừa Thiên Huế:
 
Một nhân vật xứng đáng tiếp tục được nghiên cứu, tôn vinh
 
Một số tư liệu để lại, đặc biệt tấm bia do cụ Phan lập cách đây hơn 80 năm đã khẳng định vai trò lịch sử của bà Đàn. Đặc biệt, với tinh thần yêu nước mãnh liệt và cái chết dũng cảm, bà là một phụ nữ tiêu biểu đầu thế kỷ XX của Việt Nam, hơn nữa, lại là một phụ nữ Huế. Một con người như thế thật xứng đáng để tiếp tục nghiên cứu và tôn vinh.
 
Ngoài tên đường Ấu Triệu đã có, cần phải đặt tên đường Lê Thị Đàn. Con đường đó phải rộng lớn, khang trang, có thể nằm trên địa phận T.P Huế, kề cận thị xã Hương Trà. Và tốt hơn nữa nếu có một ngôi trường mang tên Lê Thị Đàn ở Huế, để tôn vinh, nhắc nhở hậu thế tên tuổi của một liệt nữ đã anh dũng hy sinh vì nước.
 
Riêng những di sản liên quan đến bà ở Huế, ngành văn hóa cần có hế hoạch bảo tồn lâu dài. Đặc biệt, với ngôi nhà của bà ở Thế Lại Thượng, cần thiết phải nghiên cứu, xem xét lập hồ sơ công nhận di tích cấp tỉnh. Có như vậy mới bảo tồn được lâu dài, bền vững, góp phần vun đắp, giáo dục lòng tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ.
 
Nhật Nguyên (ghi)
 

Kim Oanh

Chia sẻ bài viết


ĐỒNG HÀNH CÙNG DOANH NGHIỆP