Chính trị - Xã hội Câu chuyện pháp đình

01/09/2010 - 04:50

Ghi tên người sử dụng đất trên GCN QSDĐ

TTH - * Vợ chồng tôi có một thửa đất và ngôi nhà gắn liền với đất được cấp giấy chứng nhận (GCN) quyền sử dụng đất (QSDĐ) năm 1998, nhưng chỉ ghi tên một mình tôi. Năm 2000, chồng tôi qua đời không để lại di chúc. Nay, tôi muốn lập di chúc để lại thừa kế toàn bộ nhà đất trên, nhưng một công chứng viên của Phòng công chứng Nhà nước số 2 hướng dẫn: Tôi chỉ được phép để lại thừa kế một phần nhà và đất trong toàn bộ nhà, đất nói trên. Vậy, đề nghị quý báo giải thích rõ hơn cho tôi về vấn đề này? (Lê Thị Như, trú xã Quảng Ngạn, huyện Quảng Điền).

ThS. LS Nguyễn Văn Phước, Trưởng Văn phòng Luật sư Huế: Theo Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình (HN&GĐ), tài sản chung của vợ chồng, gồm: tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân… Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu (ĐKQSH) thì trong GCN quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.

Điều 5 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 quy định chi tiết thi hành Luật HN&GĐ hướng dẫn cụ thể: Các tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng khi ĐKQSH phải ghi tên của cả vợ và chồng, gồm: nhà ở, QSDĐ và những tài sản khác mà pháp luật quy định phải ĐKQSH. Việc đăng ký các tài sản, quyền tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng phải ghi tên của cả vợ và chồng. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng đã ĐKQSH trước ngày nghị định này có hiệu lực (18/10/2001), mà chỉ ghi tên của một bên vợ hoặc chồng, thì vợ chồng có thể yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp lại giấy tờ ĐKQSH tài sản đó để ghi tên của cả vợ và chồng. Nếu vợ chồng không yêu cầu cấp lại giấy tờ ĐKQSH tài sản, thì tài sản đó vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng.
 
Ngoài ra, về việc ghi tên người sử dụng đất trong GCN QSDĐ, Nghị định 181/2004/NĐ-CP cũng quy định: Nếu QSDĐ là tài sản chung của cả vợ và chồng thì ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng; trường hợp hộ gia đình đề nghị chỉ ghi họ, tên vợ hoặc họ, tên chồng thì phải có văn bản thoả thuận của vợ và chồng có chứng thực của UBND xã, phường và thị trấn. Đối với người sử dụng đất đã được cấp GCN QSDĐ trước ngày 1/7/2004, mà việc ghi tên trên GCN QSDĐ không phù hợp với quy định vừa nêu, nếu có nhu cầu thì làm thủ tục chỉnh lý trên GCN QSDĐ đã cấp (các khoản 1 và 7, điều 43).
 
Như vậy, trừ khi vợ hoặc chồng đứng tên một mình trên GCN QSDĐ đối với QSDĐ có trước thời kỳ hôn nhân, hoặc được tặng cho riêng, thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân, hay có bằng chứng nào khác thể hiện QSDĐ là của riêng vợ hoặc chồng, thì căn cứ vào các quy định nêu trên, chúng tôi xác định ngôi nhà và đất mà vợ chồng bạn tạo lập được trong thời kỳ hôn nhân đã được cấp GCN QSDĐ, dù chỉ mình bạn đứng tên vẫn là tài sản chung của vợ chồng bạn. Và, theo quy định, trong khối tài sản chung này, giả sử công sức đóng góp, tạo dựng của vợ chồng ngang nhau thì bạn được 1/2 nhà, đất; 1/2 nhà, đất còn lại thuộc sở hữu của chồng bạn. Khi chồng bạn chết không để lại di chúc thì phần sở hữu của chồng bạn được chia theo pháp luật cho những người thừa kế; trong đó, vợ là hàng thừa kế thứ nhất, nên được hưởng một phần. Vì thế, khi lập di chúc, bạn chỉ có quyền để lại thừa kế phần sở hữu của mình, gồm: 1/2 nhà, đất trong toàn bộ nhà, đất cộng với một phần nhà, đất mà bạn được thừa kế theo pháp luật đối với phần sở hữu của chồng bạn.
 
Bùi Vĩnh (ghi)
Chia sẻ bài viết


ĐỒNG HÀNH CÙNG DOANH NGHIỆP