Kinh tế Nông nghiệp - Nông thôn

29/08/2015 - 16:28

Hạt lúa nhà chùa

TTH.VN - Giữa cánh đồng xanh ngút mắt ở phường Tây Lộc (TP. Huế), hình ảnh các tăng, ni phật tử với chiếc áo nâu đã trở nên quen thuộc với nhiều nông dân ở Huế. Nhà chùa làm lúa vừa tự túc lương thực, giúp tăng ni rèn luyện thân thể, vừa thể hiện triết lý “nông thiền” trong đạo Phật…

Thượng đẳng điền

Trước đây, trong tổng số 165 ngôi chùa ở Huế đa phần đều có ruộng, các tăng, ni đều là những “nông dân” thực thụ. Qua thời gian, số ruộng của chùa ít dần, đến nay chỉ còn Tổ đình Từ Hiếu (đường Lê Ngô Cát, phường Thủy Xuân, TP. Huế) còn làm ruộng mà thôi.
 
 

Sư chùa Từ Hiếu thu hoạch lúa

 
Cứ đến mùa xuống giống lúa, hay mùa gặt, những tăng, ni chùa Từ Hiếu lại bắt tay vào công việc đồng áng như những nông dân thực thụ. Xưa ruộng đất chùa Từ Hiếu rất nhiều, bao gồm ở làng An Truyền (xã Phú An), một số địa phương ở thị xã Hương Thủy, tăng, ni làm lúa mỗi năm 2 vụ, lương thực của chùa vì thế cũng được tự túc. Trải qua bao biến thiên của lịch sử, đến nay chùa chỉ còn làm 5 mẫu ruộng ở phường Tây Lộc.
 
Xưa, ở vùng núi Dương Xuân phong cảnh hữu tình, có một thảo am tên là An Dưỡng Am do Hòa thượng Nhất Định lập. Đến thời vua Thiệu Trị (1843), Thái giám Châu Phước Năng đứng ra vận động các Thái giám tiền triều Gia Long, Minh Mạng và dân chúng đóng góp xây dựng thảo am An Dưỡng thành một ngôi chùa khang trang. Về sau được vua Tự Đức sắc phong với biển ngạch “Sắc tứ Từ Hiếu tự”, chùa có tên là Từ Hiếu từ đó.
 
Chùa Từ Hiếu đã trở thành “chốn về” của nhiều Thái giám. Họ hiến hết cho chùa số ruộng Giám Điền mà trước đây nhà vua đã cấp cho họ ở gần quán Linh Hựu thuộc phường Tây Linh (nay là Tây Lộc). Từ đó, nối tiếp nhiều thế hệ các tăng, ni trong chùa thay nhau cày cấy trên phần đất hương hỏa của các Thái giám tặng cho chùa làm công quả. Trải qua thời gian, đến nay, số diện tích ruộng còn lại của chùa đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
 
Trên “cánh đồng nâu”
 
Trời cuối tháng 8, cái nắng liu riu trên cánh đồng vàng óng ánh sắc lúa. Điểm trên cánh đồng vàng trĩu hạt là hình ảnh các tăng, ni với chiếc áo nâu, nhễ nhãi mồ hôi cần mẫn gặt lúa. Sư Thích Từ Thông chùa Từ Hiếu cho biết, vào mùa cao điểm, trong chùa có hơn 100 tăng, ni tham gia công việc đồng áng. Trước đây ruộng còn nhiều, có khi có gần 300 tăng, ni tham gia làm ruộng.
 
 

Thu hoạch, tuốt lúa trên cánh đồng Tây Lộc

 
Ban đầu, các chú điệu chưa quen thì ra đồng học hỏi những nông dân làm ruộng gần ruộng của chùa về cách làm lúa, xem họ gieo, cấy như thế nào. Lâu dần, qua nhiều vụ lúa, các tăng, ni đều đã quen với công việc đồng áng. Làm lúa giúp chùa tự túc được lương thực, rèn luyện thân thể, biết được làm ra hạt lúa, củ khoai của người nông dân cũng một nắng hai sương, vất vả trăm bề. Trong chùa còn đặt ra chức Tri Điền, để đảm nhiệm, chuyên chăm lo công việc đồng áng, coi sóc nông nghiệp.
 
Gặp chúng tôi giữa cánh đồng Tây Lộc, sư chú Mãn Thức tâm sự: “Mình vào chùa tu đã 10 năm nay, trải qua hơn 20 mùa vụ lúa rồi. Ban đầu mình làm chưa quen, sau thì cảm thấy thích công việc đồng áng vì thấy mình làm việc có ích. Cứ đến mùa gặt, không ai bảo ai, từ sư lớn, sư nhỏ đều chung tay góp sức ra đồng làm ruộng, mang nguồn lương thực cho chùa”.
 
Ruộng của chùa trước khi xuống giống đều được làm đất rất kỹ càng, bón phân hữu cơ và bừa nhuyễn. Cách cấy lúa cũng hết sức cẩn thận, cấy thẳng như đường chỉ. Đặc biệt, tuy làm ruộng để lấy lương thực nhưng chùa không sử dụng thuốc trừ sâu, bởi theo quan niệm nhà phật không được sát sinh. Hạt lúa trên ruộng chùa gieo xuống cũng một nắng hai sương, “nhờ trời” là chính. Hạt lúa được gặt về cũng thơm vị nồng của mồ hôi, vị ngai ngái của đất ruộng cày.
 
Theo các sư trong chùa, dù không dùng hóa chất nhưng ruộng của chùa được chăm sóc tỷ mẫn nên năm nào cũng đạt năng suất cao, rất ít khi mất mùa. Vào vụ trái hè thu, nước thường thiếu, các thầy phải dẫn nước từ sông Ngự Hà ra ruộng bằng máy bơm. Các sư thầy phải thay nhau canh nước suốt ngày đêm, nhiều bà con nông dân thấy các thầy siêng năng, cẩn thận, nên rất quý, lâu lâu làm ruộng rãnh lại tạt qua bắt chuyện, có khi lại cho ít quà bánh, gói trà để thầy dùng.
 
Một ngày, theo chân các nhà sư xuống ruộng, đứng trên bờ đê, cả một “cánh đồng nâu” hiện ra trước mắt, ai nấy hăng say làm việc. Nhìn những đôi tay thoăn thoắt, bó từng gánh lúa chắc chắn, khó ai nghĩ đó là những nhà sư tu hành, lạ lẫm với đồng ruộng. Nhiều lão nông tri điền khi nhìn thấy các sư, tăng, ni làm lúa một cách tỉ mẫn, thuần thục như nông dân cũng phải mang lòng kính phục.
 
 

 Hạt lúa của nhà chùa

 
Ngồi nghỉ chân trên bờ đê, sư thầy Thích Từ Thông tâm sự: “Mình làm ra hạt lúa cũng vui và ý nghĩa lắm. Nhớ mãi trận lụt lịch sử năm 1999, cả Huế chìm trong biển nước, chùa ở trên cao nên không bị thiệt hại gì, nhưng nhìn người dân thiếu đói dữ quá. Chùa mở kho thóc, nấu cơm với muối đậu, vắt thành từng nắm lớn. Các sư, tiểu trong chùa đều lũ lượt đội cơm nóng trên đầu, băng dòng nước lũ, mang qua bờ bắc của thành phố để giúp người dân trong cơn hoạn nạn.”
 
Trong cơn bĩ cực của trận lụt đã đi vào lịch sử với nỗi ám ảnh, nỗi đau của hàng nghìn người dân xứ Huế, hạt lúa công quả của chùa đã đến được kịp thời. Nói như thầy Thích Từ Thông, làm nông cũng là cách mình nhập thế với triết lý “nông thiền”.
 

Theo thầy Thích Từ Thông,nông thiền” là một triết lý truyền thống bắt nguồn từ Thiền sư Bách Trượng thời Đường bên Trung Quốc, Thiền học mà đại sư nêu giữ, thực sự kết hợp khắng khít với sinh hoạt đời thường, Phật sự phải được nghiệm chứng trong cần lao thường ngày, lấy việc làm nông cày cấy làm thiền. Thực hiện lời chư tổ dạy “nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực” (một ngày không làm, một ngày không ăn) nên các sư của chùa cũng là những “nông dân” biết làm nông, cấy lúa.

 

Hà Nguyên

Chia sẻ bài viết


ĐỒNG HÀNH CÙNG DOANH NGHIỆP