31/07/2014 - 11:02

Không thể dễ dãi

TTH - Yêu cầu ca từ ca Huế vừa bám vào nhạc (dễ hát) vừa có giá trị nghệ thuật của văn thơ; do đó về mặt văn bản, khi không ca, đọc lên nghe như một bài thơ. Người ta nói ca từ của ca Huế với những giá trị nghệ thuật của nó là một thứ “thơ - ca” là vậy. Đi xa hơn, có người đề nghị xem nó là một hình thức thơ trên văn đàn!

Lễ hội tôn vinh ca Huế "Âm sắc Hương Bình". Ảnh: Minh Hiền

Tuy nhiên, để góp phần nâng cao giá trị nghệ thuật của ca từ trong sáng tác lời ca Huế, bài viết này xin nêu một số hạn chế về lời ca của một bài ca Huế đã được xuất bản, truyền dạy, biểu diễn mà chúng tôi đã được tiếp cận.

Một sự lặp lại nhiều lần một từ: Tỉnh giấc cô phòng / Dậy thành không, thành không / Sự sắt cầm chiêm bao thành không / Cô phòng u uất...

hoặc:

Khi ngao du Non Bình / Cảnh Non Bình / Cảnh Non Bình thiệt là xinh / Cảnh Non Bình vui nhìn / Không phiền luỵ nợ tình

Ngoài việc lặp lại nhiều lần “Non Bình”, ta còn thấy: Cảnh Non Bình thiệt là xinh? Cảnh Non Bình vui nhìn là những câu nói nôm na “tự nhiên chủ nghĩa”; vừa nói lên sự lúng túng dễ dãi của tác giả khi không biết tả Non Bình ra sao? Có thể kể thêm những ca từ nôm na:

Non xa lại un lên Ngự Bình / Nhìn liếc trộm mà coi / Nhớ ra chừng đã gặp vài nơi / Giục xui lòng rõ ràng đôi lứa

Tả lăng Thiệu Trị, nhìn bề ngoài, có tác giả đã viết:

Chưa được nhìn bên trong / Nên tả sờ - sơ đã (!)

Một số ca từ có sự liên tưởng không thật phù hợp

Viết về mẹ mà liên tưởng: “Mẹ là trời thơ” e không ổn. Lại nữa người con hỏi mẹ: Mẹ có hay rằng / Con thương mẹ hay chăng... thì có cái gì không nên, vì dẫu nhớ thương mẹ vô cùng cũng ít ai biểu hiện tình cảm đối với mẹ bằng câu hỏi ấy. Còn nhớ trong một lời ca viết về người mẹ lam lũ trên đồng ruộng mà có tác giả đã “cho” mẹ mặc áo hồng như đang đi hội. Cũng nhớ câu lục bát trong một tổ khúc viết là: Nón nghiêng nghiêng trắng nõn nà / Trai làng thêm đẹp, gái làng thêm xinh. Từ “nõn nà” dùng ở đây không hợp, còn “trai làng thêm đẹp” thì tối nghĩa. Về ca từ tối nghĩa, có thể ví dụ: tả dòng Hương mà “êm ả, phi thường” Kìa con nước / Êm ả, phi thường (!?)

Lại có người liên tưởng người quân tử là loài hoa “Sống trên bùn vẻ vang”: Hoa quân tử sống trên bùn vẻ vang... Từ “vẻ vang” không nói lên được sự thanh tao của loài hoa.

Cũng có khi do ép vần mà ca từ thành méo mó gây khó chịu cho người nghe, có khi là vô nghĩa. Điệu Nam Bình thành Nam Bường, từ “xem thường” thành “xem thàng” (!?):

Vì khúc Nam Bường / Em ca đoạn trường, cảm tình thương

Dù có muôn vàng / Ta xem cũng thàng giữa trần gian

Để có được một bài ca từ đạt đến như một bài “thơ - ca” thật khó khăn! Nói một cách hình ảnh phải có rất nhiều “quặng chữ’ mới lọc dược những ca - từ vừa thể hiện nội dung, vừa phù hợp với âm nhạc của từng câu nhạc. Ở đây “tu từ” được đặt lên hàng đầu; không thể dễ dãi, tự hạ thấp giá trị văn học trong sáng tác lời ca. Điều nhấn mạnh nữa là đề tài, cảnh vật, con người, xã hội... hôm nay khác xa với trước; Ca từ ca Huế cũng phải đổi thay để phù hợp với tâm tư, tình cảm, cách nghĩ, cách thưởng thức của thời đại. Ví dụ cũng cảnh đẹp Huế lẽ nào người viết hôm nay lại viết là chốn “Bồng lai, tiên cảnh”, “xứ thần tiên”; cũng thế thái nhân tình, nay không thể ca hoài “dan díu chi tình luỵ”, “chi bộn thế tình”; cũng tình yêu đôi lứa lại cứ lặp lại “lăng líu”, “cô phòng”, “tình si”, chờ tin “hồng nhạn” v.v...Đó là chưa kể việc sử dụng nhiều điển tích Trung Hoa như “giấc kê vàng”, ngọc Biện Hoà, Phụng cầu Hoàng (khúc đàn chim Phượng tìm chim Hoàng của Tư Mã Tương Như đời Hán), lầu Hoàng Hạc... cùng nhiều từ Hán như: tào khang, ba sinh, quần sinh... như một số sáng tác lời ca thiết nghĩ không còn phù hợp.

Vậy có thể nên yêu cầu và cũng là đặc điểm của lời ca Huế là: Dễ hát mà không dễ dãi; súc tích mà không khiên cưỡng sáo mòn; yếu tố truyền thống và hiện đại hoà quyện.

Minh Khiêm

Chia sẻ bài viết


ĐỒNG HÀNH CÙNG DOANH NGHIỆP