Thừa Thiên Huế cuối tuần Cây xanh xứ Huế

26/07/2010 - 17:51

Liễu rũ ở Huế, xưa và nay

TTH - Liễu là loài cây gỗ rụng lá theo mùa, cành nhánh mềm mại, mảnh mai, mọc buông thõng xuống tận gốc cây, đôi khi khiến cho lá Liễu phất phơ trước gió chạm cả mặt nước hồ gợn sóng lăn tăn tựa người con gái ngồi soi gương chải tóc, để những sợi tóc mềm vờn qua mặt gương soi tạo thành hình ảnh chập chờn lãng mạn.

Đôi điều tản mạn về Liễu


Liễu rủ vào thu ở Trung Quốc - ảnh minh họa từ internet
 
Trước khi bàn bạc về cây Liễu rủ ở Huế, tôi muốn dành đôi dòng để điểm qua nguồn gốc, lai lịch và mối quan tâm của người Á Đông về nó.
 
Theo tôi biết, người Á Đông thường coi trọng luật phong thủy, ngũ hành âm dương, họ luôn chú trọng đến thiên nhiên, cảnh vật và xem đó là một phần của cuộc sống, không chỉ cuộc sống vật chất mà cả giá trị tinh thần. Từ ngàn xưa, khi các thành tựu khoa học về thiên nhiên chưa được phổ biến rộng rãi, các nước Á Đông chưa có điều kiện tiếp thu các tri thức của nhân loại về các lĩnh vực này, thì họ cũng đã bằng cảm nhận trực quan, bằng kinh nghiệm sống và bằng sự kế thừa văn hóa dân tộc, đôi khi là cả văn hóa khu vực để thấy được rằng thiên nhiên là mái ấm của vạn vật, là nhựa sống của đời người.
 
Trong nhận thức ấy, họ xem cây cỏ là một thành tố quyết định chất lượng sống của cộng đồng. Vì vậy chẳng lạ gì, dù một công trình kiến trúc rất nhỏ, thậm chỉ chỉ là một mái tranh đủ che mưa nắng cho một đôi vợ chồng mới cưới, trên một vuông đất không lớn, với vài chục mét vuông đất trống quanh nhà thì họ cũng không quên tìm cho cái sân nho nhỏ, hay mảnh vườn bỏ túi của mình một cây xanh nào đó.
 
Nhiều người trong chúng ta đều biết, truyền thống chơi cây cảnh cũng luôn gắn liền với văn hóa phong thủy và những ước mơ chân thiện mĩ. Để cầu mong cho cuộc đời sung túc, thỏa mãn mọi điều, có địa vị trong xã hội và được mọi người quí trọng, người xưa đã chơi bộ bonsai Sung, Mãng cầu, Quan âm và Nguyệt quí gọi là bộ tứ qui "Sung - Mãn - Quan - Quí"; để cầu được phúc đức, tài lộc và trường thọ, họ lấy loài Sung làm biểu trưng cho Phúc, loài Mưng (Lộc vừng) cho Lộc và loài Tùng hoặc loài Tuế cho Thọ, tạo nên bộ Tam hạp "Phúc - Lộc - Thọ"; hay để biểu trưng cho bốn mùa xuân hạ thu đông, đã có bộ tứ "Mai - Lan - Cúc - Trúc"... Cứ thế, dần dà tên cây cỏ trở thành điển tích văn học, thành đề tựa cho thơ văn, thành ngôn từ ẩn dụ cho văn phong, cú pháp...
 
Điểm qua thơ văn Việt Nam và Trung Quốc chúng ta gặp khá nhiều tên cây cỏ, nhưng có lẽ, với khả năng có hạn của mình, tôi cảm nhận rằng không có loài cây nào lại được nhiều thơ văn thể hiện bằng cây Liễu rũ.
 
Nhiều thi nhân không chỉ lấy Liễu để tả cảnh mà lấy Liễu để tả người, lấy người để tả Liễu. Có điều khá chung là, các tác phẩm nổi tiếng từ thơ Đường của Trung Quốc đến thơ mới của Việt Nam đều lấy Liễu để nhân cách hóa khi cần tôn vinh vẻ đẹp hay để nói lên hình ảnh mảnh mai, yểu điệu của người thục nữ.
 
Liễu là loài cây gỗ rụng lá theo mùa, cành nhánh mềm mại, mảnh mai, mọc buông thõng xuống tận gốc cây, đôi khi khiến cho lá Liễu phất phơ trước gió chạm cả mặt nước hồ gợn sóng lăn tăn tựa người con gái ngồi soi gương chải tóc, để những sợi tóc mềm vờn qua mặt gương soi tạo thành hình ảnh chập chờn lãng mạn.
 
Liễu với người Trung Quốc
 

Liễu rủ trong băng giá ở Trung Quốc - ảnh minh họa từ internet
 
Liễu là loài cây có nguồn gốc ở Trung Quốc, được trồng phổ biến ở nhiều nơi trên đất nước này từ ngàn xưa, nên người Trung Quốc quá quen thuộc với Liễu, không chỉ ngoài thiên thiên, cảnh vật mà cả qua thơ văn nữa. Chẳng hạn như, để ca tụng vẻ đẹp của Dương Quý Phi, Bạch Cư Dị - một thi nhân đười Đường - đã viết trong Trường hận ca hai câu:
 
Vị ương Cung vẫn như xưa,
Thướt tha rặng liễu, là thua mày nàng.
 (Bản dịch của Tô Giang Tử)
 
hoặc trong Ức giang liễu:
Hàng liễu Giang Nam trồng thuở ấy
Giang Nam từ giã, đã hai xuân.
(Bản dịch của Ngô Văn Phú)
 
Liễu thuộc loại cây rụng lá vào mùa khô, ở vùng á nhiệt đới Trung Quốc mùa khô là mùa thu, cứ vào thu, Liễu rụng lá trơ cành để rồi đâm chồi nảy lộc, khoe sắc lá mạ nõn nà vào đầu xuân, trông rất đẹp mắt. Chính Vương Xương Linh đã mượn hình ảnh này để lột tả tâm trạng của một thiếu phụ hối tiếc vì đã xui chồng mình tòng quân kiếm phong tước, qua hai câu trong bài Khuê oán, được nhiều tác giả Việt Nam dịch thơ như:
 
Đầu đường chợt thấy tơ xanh liễu
Hối để chồng đi kiếm tước hầu
                (Ngô Tất Tố)
 
Nhác trông vẻ liễu bên đường
Phong hầu nghĩ dại xúi chàng kiếm chi
               (Tản Đà)
 
Âu Dương Tu cũng đề cập đến Liễu trong nhiều tác phẩm của mình, chẳng hạn như:
 
Liễu buông, đào cũng phai dần,
Đầy trời mưa bụi, gió luồn viện sâu
               (Điệp luyến hoa kỳ 6 - Đào Trung Kiên dịch)
 
Cỏ ngập khe, liễu khắp đê,
Đưa tiễn người đi suối não nề
                  (Trường Tương Tư - Đào Trung Kiên dịch)
 
Liễu ở Việt Nam
 

Liễu rũ (trái) và Tràm liễu (phải) ở Cung An Định - Huế

Ở Việt Nam, có lẽ cây Liễu đã xuất hiện khá lâu ở các tỉnh miền Bắc mà đặc trưng là Hà Nội. Đó là điều tất yếu, bởi rằng các văn nhân, thi sĩ ngày xưa ở Thăng Long đã chịu ảnh hưởng nhiều từ thơ cổ Trung Quốc, đồng thời miền Bắc lại là khu vực có điều kiện sinh thái gần gũi với kiểu sinh thái á nhiệt đới Trung Hoa, rất thích hợp để trồng Liễu. Bởi thế, chúng ta cũng không lạ gì cây Liễu cũng xuất hiện trong thơ ca cổ Việt Nam với tần suất không kém so với thơ Trung Quốc. Sau này, phong trào thơ mới phát triển, các thi nhân cũng không quên mượn Liễu để nói lên cảm nhận của mình như các bậc tiền nhân vậy.
 
Trong số đó, có lẽ Nguyễn Du là người đã dùng hình ảnh Liễu nhiều nhất trong tác phẩm của mình. Để minh chứng cho điều này, tôi đã tìm được ít nhất 20 câu có từ liễu (26, 179, 240, 269, 335, 521, 572, 582, 746, 999, 1136, 1211, 1261, 1352, 1428, 1502, 1750, 2234, 2422 và 3170) trong Truyện Kiều.
 
Chẳng hạn như:
25. Làn thu thủy, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh .
169. Dưới cầu nước chảy trong veo
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha   
239. Ngoài song thỏ thẻ oanh vàng
Nách tường bông liễu bay ngang trước mành
269. Lơ thơ tơ liễu buông mành,
Con oanh học nói trên cành mỉa mai
335. Nặng lòng xót liễu, vì hoa
Trẻ thơ đã biết đâu mà dám thưa
1211. Chơi cho liễu chán, hoa chê,
Cho lăn lóc đá, cho mê mẩn đời
1261.Khi về hỏi liễu Chương Đài
Cành xuân đã bẻ cho người chuyền tay
 
Vũ Quốc Trân cũng nói đến Liễu trong nguyên tác "Bích Câu kỳ ngộ ký", mà bản dịch có người cho là của Đặng Trần Côn, cũng có người cho là của Đoàn Thị Điểm (Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi & tgk - 1983), với hai câu:
 
Xanh xanh dãy liễu ngàn thông,
Cỏ lan lối mục, rêu phong dấu tiều
 
Thế Lữ cũng lấy hình ảnh Liễu để ca tụng tiếng địch của Tiên Tam Lang:
 
Tiếng địch trong như nước ngọc tuyền,
Êm như hơi gió thoảng cung tiên,
Cao như thông vút buồn như liễu,
Nước lặng, mây ngừng, ta đứng yên!
 
 
Và tương tự thế, còn biết bao tác giả khác ôm ấp Liễu vào thơ, cũng khó bề trích hết. Chẳng hạn như:
Cỏ rạp thân mềm liễu rũ hoa
Chàng đi bao thuở lại quê nhà
                 (Sương Nguyệt Anh)
 
Em gầy như liễu trong thơ cổ
Anh bỏ trường thi lúc thịnh Đường
             (Nguyên Sa)
 
Mắt hồ liễu rủ mi xanh,
Tóc vương gò má mỏng manh thoáng mày
               (Huy Cận)
 
Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng
             (Xuân Diệu)
 
Ngàn mai lác đác, chim về tổ
Dặm liễu bâng khuâng, khách nhớ nhà
    (Bà Huyện Thanh Quan - Nhớ nhà)
 
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi
Dặm liễu sương sa khách bước dồn
  (Bà Huyện Thanh Quan - Cảnh chiều hôm)
 
Trăng nằm sóng soải trên cành liễu
Ðợi gió đông về để lả lơi
         (Hàn Mặc Tử - Bẽn lẽn)
 
Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều,
Ðể nghe dưới đáy nước hò reo,
Ðể nghe tơ liễu rung trong gió,
Và để xem trời giải nghĩa yêu.
    (Hàn Mặc Tử - Đà Lạt trăng mờ)    
 
Liễu với đất Thần kinh ngày trước
 

Hoa tràm liễu
 
Với trào lưu ấy, Liễu cũng đã xuất hiện rất sớm trong thơ ca của những thi nhân đất Thần kinh, và chính những dòng thơ ấy lại chỉ cho chúng ta thấy Liễu đã được trồng bên bờ sông, con nước ở nhiều địa điểm của Kinh thành hằng trăm năm về trước.
Vua Tự Đức dùng Liễu làm hình ảnh ẩn dụ trong "Khóc Thị Băng Phi":
 
Mưa hè, nắng chái oanh ăn nói,
Sớm ngõ, trưa sân liễu đứng ngồi.
                                              (Ghi chú: có người cho rằng bài này của Nguyễn Gia Thiều khóc Thị Bằng Cơ)
 
Vua Thiệu Trị cũng mượn Liễu để vịnh các tiết trong năm:
Mùa này muôn vật nở nang,
Gió hòe, sóng liễu du dương điều hòa.
                          (Tiết lập Hạ)
 
Cuối năm ngày đón đêm lành,
Mai cung liễu diện đâm cành trổ hoa.
                       (Tiết Đông chí)
Ngoài ra, có rất nhiều bài thơ của nhiều thi sĩ chỉ rõ địa điểm trồng Liễu ở Huế ngày xưa. Đây là một minh chứng lịch sử cho những ai quan tâm việc phục hồi hệ thống cây xanh lịch sử cho Huế.
 
Chẳng hạn như, Cao Bá Quát:
- Nói về Liễu bên bờ Hộ thành hà (bây giờ là sông Đào):
 
Đốc Sơ kiều Bắc tống tương quy,
Giang liễu hàng biên yến yến phi
                         (Tống Nguyễn Mã Trai niên ông đắc giá Bắc hồi)
 
Tiễn người qua Bắc cầu Đốc Sơ
Hàng liễu bên sông, én lượn lờ
                       (Tạm dịch)
 
- Hay ở Bắc trường đình (phía Bắc kinh thành Huế):
 
Bắc trường đình ngoại liễu sơ điều,
Phi quá Hương giang đệ kỷ kiều.
          (Thu dạ thư hoài di quán trung chư cố nhân)
 
Phía Bắc trường đình liễu chớm xanh
Bay tận Hương giang mấy cầu hành
                   (Tạm dịch)
 
- Nhắc đến liễu ở trước cửa Ngọ Môn:
 
Thiên trung giai tiết nhập phương triều
Ngũ phụng lâu tiền ngự liễu kiều
                                                                                               (Ngũ nhật thù Phạm lang trung Nguyễn viên ngoại chiêu ẩm)
 
Sáng sớm Thiên trung nhập triều chầu
Qua cầu ngự liễu, Ngũ phụng lâu
                        (Tạm dịch)
 
- Liễu ở cầu Gia Hội:
Gia Hội kiều đầu liễu dục miên
Bao Vinh ngoại độ thủy như yên
        (Hương giang tạp vịnh)
 
Đầu cầu Gia Hội liễu mơ màng
Bao Vinh nước khói bến đò ngang
                 (Tạm dịch)
 
Vân Hạc cũng xác nhận Liễu ở bờ sông Hương qua bài "Vọng Cảnh thương tình liên hoàn khúc":
Sông Hương liễu rũ ôm tình nước
Núi Ngự thông reo trãi mộng đời
 
Bửu Cầm Xuân qua "Nhớ cố đô":
 
Mộng hồn chợt tỉnh chuông ngân tiếng,
Tâm sự thêm buồn liễu rối tơ.
 
Á nam Trần Tuấn Khải nói đến Liễu ở hồ Tịnh Tâm qua bài "Non nước thần kinh":
 
Vời trông mành liễu buông tơ,
Tịnh hồ sen nở, thẩn thơ lòng người.
 
Thúc Tề qua bài "Đêm trăng trên dòng sông Hương" cũng nhắc đến Liễu:
 
Nhịp cầu Bạch Hổ mấy bóng ma
Biến mất vì nghe tiếng giục gà
Trăng tỉnh giấc mơ lười biếng dậy
Động lòng lệ liễu, giọt sương sa.
 
Liễu ở Huế ngày nay
 

Hoa liễu rủ
 
Những câu thơ vừa dẫn đã cho thấy rằng cây Liễu chẳng lạ gì với người Huế ngày xưa. Sau nhiều đổi thay bởi những tác động nhiều mặt, cây Liễu đã một thời vắng bóng, làm cho nhiều người Huế thời nay tỏ ra xa lạ với nó. Hằng chục năm vừa qua, để tìm một bóng Liễu bên bờ hồ, bờ sông hay đầu chân cầu nào đó ở Huế là một chuyện không dễ. Thay vào đó, người ta đã đưa cây Tràm liễu trồng khắp nơi, từ sân vườn, công viên đến bờ nước và không ít người đã từng gọi đó là Liễu rũ. Gọi thế cũng không mấy sai khi chưa có cây Liễu làm đối chứng, nhất là với những người không có chuyên môn về phân loại học thực vật lại chẳng bao giờ được ai đó xếp song song cây Tràm liễu với cây Liễu để họ so sánh, bởi lẽ cây này cũng có cành rũ gần như Liễu, tuy không được mềm mại, thướt tha và cũng không mang những lá mỏng, mềm, xanh mượt như Liễu mà thôi.
 
Thật ra, nó hoàn toàn khác Liễu, là một cây thuộc họ Sim (Myrtaceae), có lá giống lá cây Tràm (Melaleuca cajuputi) nhưng cành nhánh mọc rũ nên được gọi là Tràm liễu. Tràm liễu có hoa mang nhiều nhụy tua tủa đỏ, mọc ở nách lá gần đầu cành san sát nhau tạo thành chùy đỏ trông rất bắt mắt nên được nhân nhanh làm cây cảnh quan khắp các khu đô thị, nhà vườn. Từ đặc điểm này, nó còn mang thêm tên Tràm bông đỏ. Loài cây này có tên khoa học là Callistemon citrinus (tên đồng danh là C. lanceolatus), tên tiếng Anh là Crimson bottlebrush, Red Bottlebrush, Lemon Bottlebrush...,phân bố chủ yếu ở New South Wales, Victoria and southern Queensland, thích điều kiện đất hơi ẩm và khí hậu ấm áp, thích hợp với việc đưa trồng gần bờ nước, bãi đất bồi khu vực nhiệt đới ẩm, cũng chịu được điều kiện khô hạn, nên có thể bố trí ở những công viên xa sông, hồ hay trong các khuôn viên công sở, trường học.
 
Huế là một trong những nơi có điều kiện như thế và ở Huế cũng có quá nhiều địa điểm thích hợp để phát triển loài này. Nhưng dù gì đi nữa thì nó vẫn là Tràm liễu chứ không phải Liễu, và nó không thể chỗ cho Liễu dù ngoài không gian cảnh quan hay trong thơ văn. Thật ra, trong ý thức của nhiều người, cây Liễu vẫn không mờ nhạt chút nào, chỉ tiếc là đa số đã nhầm Tràm liễu với Liễu. Do vậy, biết bao công trình kiến trúc tầm cỡ ở Huế được xây dựng theo phép phong thủy đã không quên thiết kế trồng liễu ven hồ. Chỉ tiếc không phải là Liễu rũ theo mong muốn, mà là Tràm liễu.
 
Gần đây, khi viếng khu đền Huyền Trân, đối diện với những cây Tràm liễu soi bóng mặt hồ Trường Xuân mà lòng tôi miên man niềm nuối tiếc, ước gì đó là những cây Liễu rũ để cho nhiều thi nhân mặc khách hoài cảm niềm đau, nỗi nhớ của Huyền Trân mà họa thơ lưu niệm... Theo cửa sau để vào Cung An Định, chúng ta sẽ bắt gặp rất nhiều cây Tràm liễu được trồng ven bờ hai hồ tả hữu, trong đó có một số cây Liễu rũ, nhưng nó lại nằm ở bờ hồ sát tường thành, xa tầm nhìn của du khách và khuất bóng bởi sự che chắn của hàng Tràm liễu ven lối đi vào Cung, khiến cho ít người nhận ra. Và cứ thế, khi đến nhiều nơi trong thành phố, tôi đều được chủ nhân giới thiệu cây Liễu của mình, nhưng vẫn là Tràm liễu mà thôi.
Huế là một thành phố du lịch, một trung tâm văn hóa của Việt Nam, là nơi đã có bề dày lịch sử về văn hiến, nơi hội tụ nhiều văn nhân, thi sĩ, nhà sử học và đang là điểm nóng về di sản văn hóa của thế giới. Với đặc thù đó, có lẽ chúng ta đừng để Huế phải đón nhận những phê phán về việc phục cổ các công trình lịch sử, văn hóa và tôn tạo cảnh quan đô thị, kể cả việc tái hiện một số loài cây mà tên tuổi chúng đã gắn liền với lịch sử, văn thơ. Với cách nghĩ chủ quan này, cây Liễu là một minh chứng mà bản thân người viết muốn đề cập.
 
Liễu, còn gọi là Liễu rũ là một loài cây gỗ hoàn toàn khác loài Tràm liễu nói trên. Trước hết, nó nằm trong chi thực vật Salix, là một chi tập hợp khoảng 400 loài, phân bố khắp nơi trên trái đất. Trong đó, loài quen thuộc nhất với người Á Đông nói chung, người Việt Nam và Trung Quốc nói riêng là Salix babylonica.  Loài này có nguồn gốc ở vùng Trung Á, phân bố lan tỏa đến vùng Trung Đông, ở đó nó thường mọc hai bên bờ sông Tigris và Euphrates, thuộc địa phận của Babylon cũ. Chính nhà Tự nhiên học Thụy Điển C. V. Linnaeus đã phát hiện điều đó nên đã dùng tính từ Latin "babylonica"(có nghĩa là: ở Babylon )làm tính ngữ cho danh pháp loài, đăng tải ở cuốn Specierum Plantarum (Các loài thực vật) năm 1753. Cũng từ đó nó có tên tiếng Anh là Babylon weeping willow (Liễu rũ Babylon) hay được gọi gọn là weeping willow (Liễu rũ). Người Pháp thì gọi nó là saule de Babylone (Liễu Babylon) hay saule pleureur (Liễu rũ), người Tây Ban Nha gọi là sauce de Babilonia (Liễu Babylon) và người Trung Quốc gọi là Liễu (柳)...   
 
Như vậy, xét về phân bố địa lí và thích nghi môi trường sống, Tràm liễu và Liễu rất khác nhau.  Trong khi Liễu chỉ phân bố ở Trung Á và Trung Đông, thuộc Bắc Bán cầu, thì Tràm liễu lại phân bố chủ yếu ở khu vực Đông Nam Châu Úc, thuộc Nam Bán cầu.
 
Tất cả các loài Liễu đều có cơ thể chứa dịch nhiều nước, vỏ cây chứa axít salicylic, nhiều ít tùy loài và tùy điều kiện môi trường sống. Liễu là loài cây gỗ có cành mảnh mai, nhưng rất dẻo nên chịu gió tốt. Là cây rụng lá theo mùa, khi rụng lá trơ cành, cành buông thõng như những sợi tơ buông mành, phất phơ trước gió gây rung cảm các thi nhân mặc khách, nảy ý sinh thơ. Bộ rễ của Liễu lớn, dài, sống dai, chịu được ngập nước, thích hợp cho cây sống tựa bờ sông, con nước, đất ẩm, thậm chí chịu ngập nước một thời gian dài trong năm.
 
Lá Liễu hình mũi mác, thuôn dài, mỏng, mọc cách, mép lá thường có khía răng cưa, cuống ngắn. Chồi ngọn thoái hóa sớm, các chồi bên có khả năng ngủ đông rất tốt nhờ lớp vảy bọc dày. Qua đông, các chồi ngủ phát triển thành cành, cành tiếp tục phát triển các chồi bên liên tục, khiến cho cây càng trưởng thành càng rũ.
 
Liễu là loài mang hoa đơn tính khác gốc, tập hợp thành dạng bông đuôi sóc, xuất hiện vào đầu mùa xuân, khi cây bắt đầu ra lá. Hoa đực thuộc dạng hoa trần, với bộ nhị có số lượng biến động từ 2 tới 10. Các bao phấn dạng 2 ngăn mở dọc, màu hồng khi ở dạng chồi rồi chuyển qua màu vàng cam hay tía sau khi hoa nở. Các chỉ nhị mảnh như sợi chỉ, thường có màu vàng nhạt và nhiều lông tơ. Hoa cái cũng trần, 1 bầu nhụy một ngăn chứa nhiều noãn, vòi nhụy 2 thùy.
 
Quả Liễu là dạng quả nang nhỏ, một ngăn, 2 mảnh vỏ, hình trụ, chứa nhiều hạt nhỏ có lông tơ thích nghi với kiểu phát tán nhờ gió.
 
Liễu là loài cây đa tác dụng, ngoài khả năng tôn tạo cảnh quan, nó còn là loài cho gỗ khá tốt với thớ mịn, dai, dẻo, ít nứt nẻ, thường được dùng làm vợt. Cây Liễu còn cho nhiều dược chất trị được nhiều bệnh khác nhau. Nhiều nhà khoa học trên thế giới cho rằng các dược chất trích từ Liễu rũ có thể chống nhiễm trùng (Al-Rawi, Steinmetz), làm se (Woi.Syria); chống ung thư (Hartwell); trị mụn nhọt (Bliss); hạ sốt (Bliss, Woi.Syria); chữa bệnh lậu (Bliss); bệnh vàng da (Bliss); bệnh sốt rét (Al-Rawi); tê thấp (Al-Rawi, Bliss, Woi.Syria); cảm lạnh (Bliss); hoặc làm trà (Bliss); làm rượu bổ (Steinmetz, Woi.Syria); làm thuốc xổ giun (Steinmetz)...
 
Với những luận cứ khoa học vừa nêu ở trên, chúng tôi nghĩ rằng, đã đến lúc các cơ quan hữu trách liên quan đến môi trường cảnh quan, đến bảo tồn di sản văn hóa Huế nên bắt tay vào việc lập qui hoạch và kế hoạch tái tạo hình ảnh cây Liễu rũ cho Cố đô Huế, ưu tiên tái hiện Liễu ở những địa điểm vốn có từ xưa, đã được các nhà thơ nói tới ở trên như Liễu ở Ngự liễu kiều, ở bờ sông Đào, ở đầu cầu Gia Hội (Cao Bá Quát), ở hồ Tịnh Tâm (Trần Tuấn Khải), ở bờ Hương giang (Thúc Tề, Vân Hạc...).
 

Quả tràm liễu
 
Vài năm trở lại đây, Liễu rũ được trồng điểm xuyết ở hai bờ sông An Cựu, ở mép hồ Tôn Đức Thắng và hồ Phạm Hồng Thái. Xét về mặt cảnh quan, người trồng đã bố trí Liễu đúng không gian cho Liễu soi bóng, nhưng xét về mặt khoa học, về môi trường sinh thái thì có vấn đề cần trao đổi. Ở bờ sông An Cựu, Liễu được trồng trên vỉa hè ven bờ sông, môt bên là đường nhựa, một bên là bờ kè bê-tông, mặt vỉa hè cũng lát gạch, gốc Liễu nằm ở độ cao khoảng vài mét so với mực nước sông. Như vậy, rễ Liễu khó có đủ độ ẩm để hút nước thường xuyên và cũng khó có đủ độ thông thoáng để hô hấp nhằm đáp ứng đặc điểm sinh học cố hữu của cây.
 
Ngay ở hồ cảnh góc đường Phạm Hồng Thái và Nguyễn Thị Minh Khai, bờ hồ cũng được xây kè bằng bê-tông, khiến Liễu cũng khó sinh trưởng bình thường. Do vậy, Liễu phát triển chậm, cành nhánh không dủ dài để rũ lá tận mặt hồ được, vào mùa hè cây có vẻ xơ xác không đẹp. Nếu so sánh với Liễu ở bờ hồ Tôn Đức Thắng, chúng ta sẽ thấy khá khác biệt. Ở đây, bờ hồ không được xây kè, cây Liễu mọc sát mép nước, thậm chí vào những tháng mưa, nước hồ ngập cả gốc Liễu. Nhờ thế, Liễu có cành nhánh mềm mại hơn, rũ nhiều hơn, thậm chí rũ tận mặt nước hồ.
 
Ngoài ra, khi trồng Liễu theo phương thức điểm xuyết hay xen, cũng cần lưu ý khả năng phát vòm tán của Liễu và các cây lân cận. Không chú ý đặc điểm này đã khiến bóng Liễu lu mờ bên những hàng cây cao, bóng lớn và như thế sẽ mất tác dụng mỹ thuật. Đó là chưa nói rằng Liễu bị cạnh tranh không gian dinh dưỡng một cách mảnh liệt bởi những cây gỗ lớn kế cận, cả không gian đất và không gian ánh sáng, trong khi Liễu là một loài ưa sáng toàn phần, khó phát triển vòm lá một cách tự nhiên được.
 
Theo tôi, ở hai bờ sông Hương còn rất nhiều chỗ để bố trí trồng Liễu. Ở bờ Bắc, ven công viên Thương Bạc và công viên Phú Xuân, những bãi bồi cỏ mọc xanh rì, rất thích hợp cho Liễu phát triển. Nếu chúng ta nghiên cứu qui cách, mật độ hợp lí để trồng thì sẽ có được những hàng Liễu rũ ven sông, soi bóng mặt dòng Hương tha thướt, sẽ hấp dẫn du khách xuôi ngược dòng Hương bằng thuyền hay lữ khách dừng chân trên bờ để thưởng lãm. Bờ Nam sông Hương cũng còn quá nhiều chỗ để trồng Liễu tương tự bờ Bắc.
 
Hiện nay, đoạn bờ sông từ cầu Trương Tiền đến khách sạn Century, bên ngoài dãy lan can bê-tông là bãi cỏ mọc tự nhiên không mấy đẹp mắt. Một du khách hay bất kì người  Huế nào muốn thư giãn hay đến đó để tập thể dục khi hoàng hôn chưa xuống, họ phải hứng chịu cái nắng ban chiều oi bức, chói chan. Giá như trên bãi cỏ này có một hàng Liễu rũ mọc lên, nhược điểm đó ắt được phắc phục, đồng thời nó tạo nên một bức rèm tự nhiên tô điểm cho bờ sông thêm thơ mộng. Lúc ấy khách ngồi dưới thuyền, trên nhà hàng nổi và khách trên bờ vẫn có được một cảm giác gần gũi nhưng không lộ liễu, xơ cứng như hiện nay.
 
Nhiều thành phố Trung Quốc, đặc biệt là phố cổ Lệ Giang là mô hình Liễu rũ soi bóng mặt sông điển hình để ta suy ngẫm. Ngoài ra, nếu ngay Ngự Liễu kiều, một vài bóng Liễu phất phơ sẽ làm cho Ngọ môn và lầu Ngũ phụng thêm thơ mộng, cổ kính, và nếu ở bên những gốc Liễu đó bố trí một tảng đá rêu phong ghi lại bài thơ "Khóc Thị Bằng Phi" hay các bài thơ vịnh cảnh của Vua Thiệu Trị thì hay biết mấy. Cứ thế, rồi chúng ta tái hiện dần hình ảnh cây Liễu cho cầu Gia Hội, cho Hộ thành hà... rồi lại phát triển cho các hồ cảnh ở Đại Nội, ở lăng Gia Long, Tự Đức, Minh Mạng, Thiệu Trị... ắt sẽ làm cho cảnh quan khu di tích thêm phần huyền ảo thú vị. Cũng như nhiều loài cây thân gỗ khác, Liễu cũng là loài dùng làm bonsai được, có thể tạo bonsai Liễu cho những hòn non bộ trong các vườn cảnh để tạo những đường nét mềm mại, xóa bớt những đường nét xơ cứng nhân tạo.
 
Khi viết bài, tôi vẫn nghĩ rằng một lúc nào đó hình ảnh Liễu xưa ở Huế như trong thơ sẽ được tái hiện đúng chỗ. Và để thay cho lời kết luận nhằm kết thúc bài viết, tôi xin viết mấy vần thơ nói lên ước mơ đó của mình:
 
Chờ Liễu
Liễu ơi, em nhớ Huế chăng?
Mau về rũ bóng, soi trăng mặt hồ
Dòng Hương phẳng lặng như tờ
Bao năm đợi Liễu, lững lờ không trôi
Ngày xưa em đứng khắp nơi
Tựa bờ hồ nhỏ nhìn trời mộng mơ
Đầu cầu em cũng đong đưa
Bên dòng sông nhỏ sớm trưa rũ cành
Thi nhân ấp ủ đã đành
Huế thương cũng có yến oanh đợi người
Em về cảnh vật thêm tươi
Cho dòng nước ngọt đón người tha phương
Về rồi em sẽ vấn vương
Cảnh quan xứ Huế thân thương vô cùng
Chờ em ngày hội trùng phùng
Cỏ cây đô thị hòa cùng niềm vui.
 
Đỗ Xuân Cẩm
    
 
Chia sẻ bài viết


ĐỒNG HÀNH CÙNG DOANH NGHIỆP