27/12/2012 - 14:05

“Nếu Việt Nam có chiến tranh, chúng tôi sẽ trở lại lần nữa”

TTH - Hội Cựu chiến binh Thừa Thiên Huế có vinh dự được thay mặt CCB cả nước tiếp đoàn CCB Nga trong năm 2004 và 2005. Đoàn thứ hai là các CCB Nga đã từng sang Việt Nam giúp nhân dân Việt Nam đánh thắng B52 của Mỹ làm nên lịch sử "Điện Biên Phủ trên không". Đại tá Nguyễn Đức Thuận, nguyên Thường trực Hội CCBVN tỉnh kể:

Trong hai lần đón đoàn CCB Nga ở Huế, tôi đều được đón tiếp đoàn. Những lần gặp ấy đã để lại ấn tượng mối tình hữu nghị anh em đặc biệt. Nhất là năm 2005, đón đoàn của vị đại tướng đã từng là sư trưởng của sư đoàn tên lửa trực tiếp tham gia đánh B52 Mỹ ở phía Tây Bắc Hà Nội. Trong suốt 12 ngày đêm Hà Nội, đơn vị của ông đã cùng bộ đội ta hạ gục 12 B52 Mỹ. Tại buổi tiếp của Hội CCBVN tỉnh, các CCB Nga đã không quên kể về những kỷ niệm sâu sắc về chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”, mà tôi còn nhớ mãi.

Nhớ lại buổi gặp mặt với CCB Nga

Ngày 8/9/1972, khi máy bay Mỹ đánh vào trận địa tên lửa ở phía Bắc Hà Nội, Thượng úy Mikhail Bindikov bị thương nặng. Chiếc F4 còn vòng lại, thả thêm một quả bom mẹ chứa 400 bom con (mỗi bom con chứa 400 viên bi) xuống chỗ đó, làm anh bị thêm hàng chục mảnh bom nữa. Tất cả các chuyên gia Liên Xô và bạn Việt Nam đều tình nguyện hiến máu cứu anh. Nhưng vì vết thương quá nặng, ngày 10/9, Bindikov đã hy sinh.

Càng đi vào các tỉnh phía Nam, tôi càng thấy không quân Mỹ đánh phá dữ dội, hố bom chi chít dọc đường 1. Ba lần qua ngã ba Đồng Lộc, tôi nhớ mãi hình ảnh các cô gái dũng cảm đứng trên đỉnh đồi quan sát bom địch thả xuống để kịp thời phát hiện và đánh dấu bom nổ chậm...
 
Mỹ liên tục cải tiến cho B52 và đã có tới 8 kiểu nối tiếp nhau ra đời từ B52A đến B52H. Lúc đầu B52D chỉ mang được 52 quả bom (12.247 kg), sau cải tiến lên tới 108 quả (27.216 kg). Khi mới tham chiến mỗi B52 chỉ được trang bị 8 máy gây nhiễu, tới năm 1972 đã có 15 máy gây nhiễu tích cực, 2 máy gây nhiễu tiêu cực, thiết bị gây nhiễu hồng ngoại, tên lửa mồi bẫy Quail.
 
Đi kèm mỗi B52 trung bình có 7 máy bay các loại để trinh sát, gây nhiễu, chế áp phòng không, chỉ huy và cảnh giới, hộ tống chặn MIG, tiếp dầu, cứu hộ… Để an toàn hơn cho B52, Mỹ đã gây nhiễu công suất lớn trên các dải tần số làm việc của hệ thống rada cảnh giới và điều khiển hoả lực của ta cũng như của hệ thống thông tin liên lạc, chỉ huy chiến đấu.
 
Cùng với việc cải tiến B52, Không quân Mỹ suốt ngày đêm đánh phá dữ dội vào lực lượng PK-KQ của ta. Nhằm gây khó khăn cho hệ thống phòng không Việt Nam, không quân Mỹ đã bắn tên lửa và ném bom ồ ạt nhiều lần vào 19 trận địa tên lửa, có nơi bị đánh 6 lần, 14 trận địa pháo cao xạ và 8 sân bay. Thế nhưng B52 vẫn rơi.
 
Sau khi chiến dịch kết thúc, Mỹ ra sức nghiên cứu, tìm hiểu lý do thiệt hại nặng nề của B52 trước đối thủ SAM-2 mà theo họ tính toán thì đã bị vô hiệu hoá, các pháo đài bay chỉ việc “nối đuôi nhau bay đi rồi bay về như đi dạo”. Lý do không thể phủ nhận được chính là sức mạnh của hệ thống phòng không Việt Nam mà Lầu Năm Góc đã tính nhầm. Tuy bị nhiều thiệt hại nhưng lực lượng PK-KQ của ta đã nhanh chóng khắc phục hậu quả, kịp thời rút kinh nghiệm và chiến đấu ngày càng hiệu quả hơn.
 
Tướng Khiupenen A.I. đến thủ đô Hà Nội sáng 15/12/1972, ba ngày trước khi hàng trăm chiếc siêu pháo đài bay B52 của Mỹ thực hiện chiến dịch Linebacker II. Ngay hôm sau, trong buổi gặp Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam Văn Tiến Dũng, ông Khiupenen A.I nhận được thông báo về khả năng có cuộc tập kích lớn của không quân Mỹ vào miền Bắc Việt Nam.
 
Đến ngày 17/12/1972, ta đã xác định rõ thời điểm của đợt tấn công đầu tiên mà không quân Mỹ tiến hành nhằm thực hiện âm mưu “đưa miền Bắc Việt Nam về thời kỳ đồ đá”. Khoảng 19g ngày 18/12, tiếng còi báo động rền vang đã cắt ngang buổi tiếp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp dành cho ông Khiupenen A.I. Chiến dịch Linebacker II chính thức bắt đầu. Lực lượng phòng không – không quân bảo vệ Hà Nội đã sẵn sàng chiến đấu với 62% các tiểu đoàn tên lửa cùng 64% đạn tên lửa cùng các đơn vị pháo cao xạ, máy bay tiêm kích và các tổ, đội bắn máy bay của dân quân.
 
Các chuyên gia quân sự Xô-viết về kỹ thuật tên lửa, radar, tác chiến điện tử, không quân tiêm kích cùng chung chiến hào với quân dân Việt Nam. Theo số liệu của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Xô-viết, từ 11/7/1965 đến 31/12/1974 đã có 6.359 sĩ quan và gần 4.500 hạ sĩ quan, binh sĩ Liên Xô trực tiếp làm nhiệm vụ huấn luyện, bảo đảm kỹ thuật và vũ khí trang bị, sát cánh cùng với bộ đội Việt Nam trên chiến trường miền Bắc chống lại không quân Mỹ. Trong đó nhiều người đã lập công xuất sắc, có người đã dũng cảm hy sinh, bị thương… Hơn 3.000 người được tặng thưởng huân, huy chương của Nhà nước Việt Nam.
 
Lực lượng chủ yếu để đối phó với B52 khi đó là tên lửa SAM-2, được thiết kế để bắn mục tiêu trên không tới độ cao 27km. Trong cuộc chiến tháng 6/1967 ở Trung Đông, quân đội Ai Cập đã triển khai 18 tiểu đoàn tên lửa SAM-2, nhưng chỉ phóng được 22 quả, bắn rơi 2 máy bay Mirage của Israel. Trong cuộc chiến tranh này, một số khí tài SAM-2 nguyên vẹn đã rơi vào tay quân đội Israel và được chuyển ngay cho Mỹ nghiên cứu, tìm hiểu. Trong 12 ngày đêm chiến dịch, theo thống kê của các chuyên gia quân sự Xô-viết, đã có 81 máy bay Mỹ bị bắn rơi. Trong đó có tới 34 B52 và 3 chiếc F111. Bộ đội tên lửa phòng không đã phóng 321 tên lửa, hạ 54 máy bay, trong đó 244 tên lửa diệt 31 B52, chiếm 91% số B52 bị bắn rơi, bình quân 7,9 tên lửa hạ một B52 và 77 tên lửa diệt 23 máy bay chiến thuật. Nhờ thành tích xuất sắc này, bộ đội tên lửa đã được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân.
 
Chia tay trong lưu luyến, một CCB Nga đã nói một câu mà ai cũng ghi nhớ mãi: Nếu Việt Nam có chiến tranh, chúng tôi sẽ trở lại lần nữa!

Bài và ảnh: Tâm Hành

Chia sẻ bài viết


ĐỒNG HÀNH CÙNG DOANH NGHIỆP