10/10/2010 - 05:15

Người viết sử nước mình lên mặt đất

TTH - Cuộc đời của nhà thơ Trần Quang Long có thể nói là quá ngắn ngủi song anh đã có cuộc hành trình Nam tiến thật hào hùng. Nguyên quán ở làng Bát Tràng, Gia Lâm, Hà Nội; anh lớn lên, tham gia các phong trào đấu tranh chống chính quyền Ngô Đình Diệm ở Huế và sau đó in đậm bước chân cách mạng ở Quy Nhơn - Cần Thơ - Sài Gòn - Tây Ninh, song hành cùng thơ trên nẻo đường tranh đấu.

Sự dấn thân trọn vẹn

Trong kịch bản đêm thơ kỷ niệm 65 năm cách mạng Tháng Tám & Quốc khánh 2/9, nhà thơ Nguyễn Phước Hải Trung đã viết lời dẫn: “Trần Quang Long từng là Trưởng ban Báo chí của Tổng hội Sinh viên Huế. Trong từng giai đoạn, ông tổ chức đấu tranh chống lại chế độ Sài Gòn. Ông còn là Chủ tịch Hội sinh viên sáng tác thuộc Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, tuyển chọn thơ sinh viên “Tiếng hát những người đi tới” để cổ vũ đấu tranh. Thơ Trần Quang Long thường hay nói về trái tim. Đối với ông, thơ và trái tim là một - trong thơ không thể thiếu trái tim và ngược lại, bỗng bốc cháy những tình cảm trỗi dậy chưa từng có: “Con đang nghe trái tim. Nổ tung thành mảnh vụn. Máu từng dòng im lìm. Máu từng dòng phẫn nộ”.

Sau đêm thơ, tôi đã đọc hầu hết tác phẩm của Trần Quang Long. Viết sử nước mình lên mặt đất - thơ, trước hết là một người bạn bí ẩn trong con người anh, thôi thúc anh, cùng anh nâng bước nhau vững tiến về phía Mặt trời chân lý. Đọc thơ Trần Quang Long, tôi nhận ra một Phùng Quán trong anh, luôn biết nghe Lời mẹ dặn: “Bài học i tờ ngày xưa mẹ dạy. Con viết thành lời đắng cay”. Và nếu Phùng Quán “đúc thơ thành đạn. Bắn vào tim những kẻ làm càn. Những người tiêu máu nhân dân”, thì Trần Quang Long “Vót nhọn thơ thành chông/ Xuyên vào gan lũ giặc”. Hay như, “Cây tầm vông hai đầu vót nhọn. Một đầu để anh đâm vào ngực kẻ thù. Còn một đầu. Để anh viết lên lòng đất mẹ một bài thơ” (Lớn lên không ngừng).
 
Cũng như nhiều anh em bè bạn ở Huế, như Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Hữu Ngô, Lê Văn Ngăn, Tô Nhuận Vỹ, Nguyễn Văn Dũng, Trần Vàng Sao, Nguyễn Đắc Xuân,... Trần Quang Long sáng tác thơ (các tập Thưa mẹ trái tim, Vực thẳm và hy vọng, Thơ Trần Quang Long, Sao rừng), kịch thơ (Tiếng gọi Lam Sơn), viết truyện (Bông cúc vàng), làm báo (tham gia biên tập và cộng tác với một số tờ báo, như Đất Mới, Dân, Huế, Tin Văn, Đất Nước với nhiều bút danh khác nhau), mục đích duy nhất và cuối cùng là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần tranh đấu trong quần chúng cùng thời chống chính quyền tay sai, giải phóng vận mệnh đất nước.
 
Cách mạng hồi đó theo anh hiểu, là “biểu tình như rừng, biểu tình như núi; biểu tình như sóng ngàn, biểu tình như nước lũ; biểu tình khi trời nắng, biểu tình khi trời mưa; những thanh niên mắt trào uất hận; biển cuồng sôi núi ngút căm hờn”. Sự kiện Trần Quang Long công bố bài thơ Hồi kết cuộc trên báo Dân (Những tử thi ngổn ngang. Không còn nhìn ra mặt. Cũng không có áo quần. Nằm chung một dải đất. Nghèo đói và lầm than); “tội” “làm thơ tuyên truyền cho cộng sản” này khiến anh lãnh 6 tháng tối tăm đầu đời. Lần thứ 2 tại Pleiku. Ngồi tù trong điều kiện bị thương nặng ở chân và với cảnh sống hết sức bi đát, Trần Quang Long vẫn “cười trong tiếng nấc”, ung dung “sờ râu nhẩm tính đời ngang dọc. Bốn vách tường đen - ngày tháng qua”; anh vẫn cùng bạn tù đề thơ lên “áo rách nhàu” như một minh chứng cho niềm lạc quan tin yêu cách mạng của những anh hùng thời đại “viết lịch sử oai linh”.
 
“Những con đường mở ra từ ngàn xưa hoang vu lịch sử”, tới đâu Trần Quang Long cũng gây dựng được phong trào đầy khí thế, sức vóc. Rời Huế vào Quy Nhơn, Trần Quang Long nhanh chóng được bầu làm Chủ tịch lực lượng bảo vệ dân tộc Bình Định, “chống pháo kích bừa bãi, chống chế độ độc tài, tiến hành bầu cử dân chủ”... Sự phản kháng quyết liệt của người đi đầu của hơn một trăm học sinh, sinh viên khiến bọn chúng đánh gãy chân anh, bắt. Ra tù. Vào miền Nam, Trần Quang Long cũng là một “tên tuổi lớn” khuấy động phong trào chống chính quyền áp bức với tư cách là Chủ tịch Hội Sinh viên sáng tác, thuộc Tổng hội Sinh viên Sài Gòn.
 

Trần Quang Long (áo sẫm) tại bệnh viện, 1966.

Ngày 11/10/1968, một quả bom đã rơi trúng hầm trú ngụ có mặt Uỷ viên Mặt trận Liên minh dân tộc dân chủ sài Gòn lúc mới 27 tuổi cùng nhiều đồng chí của anh tại căn cứ Ban Tuyên huấn Trung ương Cục Miền Nam thuộc biên giới Tây Ninh - Campuchia. Anh đã hiểu về hy sinh trước đó. Hiểu về cái chết có thể đến bất cứ lúc nào. Cái chết ở đây là cống hiến cho sự bình an của quê hương trong đó có người thân của anh. Bài thơ Thưa mẹ trái tim ra đời lúc anh mới 25 tuổi, lúc đó anh đã linh cảm, đã mơ hồ nghe được “Tiếng kêu la của bà mẹ đi tìm. Quờ quạng xác con trong căn nhà gạch vụn. Oanh tạc vùng tình nghi. Con nghe tiếng quay cuồng của vũ điệu về khuya. Từng tràng cười ré lên như địa ngục”… Vậy nhưng từ thời điểm đó đến 2 năm sau, là chặng đường mà nhiệt huyết cách mạng trong con tim anh dâng trào, sôi sục và sung mãn nhất.
 
Thơ tình, người vợ và đứa con trong tù
 
Nỗi giằng xé lớn trong con người Trần Quang Long là lúc rời xa người yêu để dấn thân vì lý tưởng. Anh ra đi trong lúc người vợ Quỳnh Như của anh đang mang thai cháu Xuân Thắng trong tù. Quỳnh Như là con gái của Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ - một trí thức Nho học lẫn Tây học uyên thâm. Ông giữ chức vụ Thư ký Hội Trí thức Cứu quốc Thừa Thiên Huế. Dưới chính quyền của Diệm, ông cũng hai lần bị bắt, ở tù nhưng chúng hoàn toàn không khuất phục được; phong trào đấu tranh đô thị ở Huế trở nên quyết liệt và rộng khắp. Con gái ông, người phụ nữ đáng thương Quỳnh Như “có mặt” trong bài Hương Xưa của Cung Tiến: “...vẫn yêu muôn đời nàng Quỳnh Như thuở đó”, mỗi lúc buồn, Trần Quang Long lại hát. Anh dành khối tình riêng nén vào thơ, đắm đuối và say nồng như “thi sĩ của tình yêu”: “Anh lắng nghe từng hơi thở em. Uống từng ánh mắt đắm say men. Cuồng si anh chết trong hư ảo”… Từ lãng mạn: “Anh đếm ngàn sao trong mắt em”, câu thơ chợt đẹp lộng lẫy: “Những tơ trời loãng giữa sương đêm”.
 
Thơ tình của Trần Quang Long, người ta thường nhắc tới bài “Nghiêng nón”, mà theo cách nói của Nguyễn Hữu Châu Phan, “các bạn trẻ bấy giờ không chép thơ anh bằng mực tím nữa mà chép bằng máu đỏ trong mỗi trái tim”.
 
Sao em biết anh nhìn mà nghiêng nón
Chiều mùa thu mây che có nắng đâu
Nắng sẽ làm phai mái tóc xanh mầu
Sẽ làm khô làn môi em dịu ướt
 
Với tôi, cái hay đó dung dị, và có phần giản đơn. Bài thơ tình hay nhất của Trần Quang Long phải là “Lời gọi”, câu mở đầu đã đầy đủ tầm vóc một bản triết luận sâu sắc, ám gợi, vang:
 
Em như tiếng tù và bộ lạc thân yêu gọi linh hồn anh du tử.
Anh vẫn là loài dã tràng mê mải
Cung điện ta chưa kịp khánh thành
Những lớp sóng cuồng ghen muôn đời huỷ hoại
 
Và cặp thơ: Tôi trở về nằm im trên ghềnh đá/ Nghi thời gian ăn ruỗng trái tim thừa trong bài “Tình yêu đi qua”; động từ “nghi” được chọn và đặt đúng không gian đã khiến tôi không còn nghi ngờ, rằng đấy là hai câu thơ xuất thần không có lần thứ 2 trong đời thơ anh.
 
Vĩ thanh từ ngõ Huế xưa
 
Ngồi ở quán cà phê Tổng hội Sinh viên một chiều mưa xứ Huế với nhà thơ Nguyễn Phước Hải Trung, miên man đến phong thái làm việc nhiệt huyết của Trần Quang Long trong ngôi nhà 22 Trương Định “với giàn hoa giấy xinh xinh màu lửa” (Nguyễn Duy Hiền) vốn là toà soạn của nhiều tờ báo như Tiếng gọi Sinh viên, Tiếng gọi Học sinh, Tiếng gọi Việt Nam; gợi đến buổi nào đó, Trần Quang Long cùng với người bạn chí thân Lê Hiếu Đằng ngồi với nhau thường sáng “bên tách cà phê nóng hổi ở quán Dung trong Thành Nội bàn chuyện văn chương”. Trong cách nhìn của một nhà thơ tôi quen cũng thật đáng suy ngẫm: “Phản kháng sự hiện diện của ngoại xâm ngự trị lên con người (theo nghĩa rộng), Trần Quang Long đã dấn thân trọn vẹn cho lý tưởng của chính mình lựa chọn”.
 
Tôi vẫn nghĩ, tầng lớp thanh niên trí thức một thời hào hùng đã qua luôn là sức vóc tạo nên phần tất yếu của thắng lợi. Theo dòng lịch sử đấu tranh đô thị, (“nhà tù không thể giam cầm ý thức, bạo tàn không thể bóp chết con tim”), Trần Quang Long vẫn tự nhận mình là “một nhân chứng tầm thường” của cách mạng. Sự khiêm tốn “thái quá” này khó mà thuận lòng những ai từng ngắm chân dung anh - một người đam mê tranh đấu cho bình an cuộc sống cộng đồng, và Thơ. 
 
Nhuỵ Nguyên
Chia sẻ bài viết


ĐỒNG HÀNH CÙNG DOANH NGHIỆP