06/02/2014 - 10:37

Nguyễn Khuyến thọ bao nhiêu tuổi?

TTH - Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến là nhà khoa bảng, nhà thơ yêu nước tài danh thuộc thế kỷ 19, mất vào đầu thế kỷ 20. Thân thế và sự nghiệp của ông được sưu tầm đầy đủ, trình bày minh bạch. Đã có nhiều nhà nghiên cứu với hàng chục công trình nghiên cứu về con người và thơ Nguyễn Khuyến trong đó đáng kể nhất là công trình nghiên cứu của cố nhà thơ Xuân Diệu đã được xuất bản thành sách dày vài trăm trang vào thập kỷ 60, thế kỷ 20.

Tôi có được hiểu biết về Nguyễn Khuyến cũng nhờ đọc tác phẩm này. Tuy nhiên cho đến nay sau hơn nữa thế kỷ tôi vẫn day dứt về một câu hỏi từng được Xuân Diệu phát hiện nhưng vẫn để ngỏ chưa có lời giải trong tác phẩm của mình. Đó là về tuổi thọ của Nguyễn Khuyến. Theo lý lịch Nguyễn Khuyến sinh năm Ất Mùi (tức năm 1835) và mất năm Kỷ Dậu (tức 1909), thọ Dương 74, thọ Âm 75 tuổi. Nhưng trong bài thơ Di chúc (có nơi gọi là bài “Trị mệnh” tức “lời trăn trối”) hai câu mở đầu Nguyễn Khuyến viết: “Ngã niên trị bát bát - Ngã số phùng cửu cửu” (年值八八, 我數逢九九...). Về hai câu trên, cho đến nay, trên các tài liệu chính thức vẫn sử dụng hai lời dịch. Dịch nghĩa: “tuổi thầy gặp quẻ bát thuần (vừa hết); Số thầy gặp quẻ dương cùng (đã hết). Phổ biến hơn là bài dịch thơ với hai câu mở đầu: “Kém hai tuổi đầy chín chục, số thầy sinh phải lúc dương cùng” (bài dịch Di chúc bằng thơ mở đầu bằng 2 câu như trên có nơi chép là tác giả tự dịch nhưng một số cụ cao niên cho rằng do cụ Trần Tán Bính dịch lúc đưa ma cụ Nguyễn Khuyến). Như vậy theo lý lịch thì Nguyễn Khuyến thọ 74-75 tuổi (tùy cách tính theo DL hay ÂL) nhưng theo Di chúc thì cụ sống đến 88 tuổi! Vậy con số nào là thật? Cho đến nay câu hỏi vẫn bỏ ngỏ chưa có lời giải đáp. Vài năm trước đây nhà nghiên cứu Đào Thái Tôn có đưa ra một cách giải thích: “bát bát” trong bài Di chúc không phải là con số 88 mà phát âm theo hai chữ “bá bá” theo tiếng Trung Quốc là chỉ “người già” nói chung! Tác giả không giải thích 2 chữ “cửu cửu” ở câu tiếp theo. Người viết bài này không phải là nhà nghiên cứu văn học cũng không thạo Hán ngữ. Song là người ham đọc sách cũng có biết đôi chút chữ Hán, cũng là người rất yêu thơ Nguyễn Khuyến từ ngày còn ngồi ghế nhà trường, từ lâu cũng đã có một phương án giải đáp câu hỏi trên nhưng tự nghĩ là “chuông khánh còn chẳng ăn ai” (Xuân Diệu còn chưa giải mã) nên vẫn đắn đo chờ các bậc thức giả lên tiếng. Đến nay mạnh dạn trình bày mong được kiến giải.

Để hiểu đúng 2 câu thơ mở đầu Di chúc, theo tôi cần quán triệt 2 đặc điểm: - Một là: Nguyễn Khuyến sinh vào năm Ất Mùi, Minh Mạng năm thứ 15 (1835), đỗ đạt và làm quan dưới triều Tự Đức, lúc Nhà nước phong kiến Việt Nam mất độc lập trở thành nô lệ dưới ách thực dân Pháp. Nguyễn Khuyến làm đến chức quan đầu tỉnh (Án sát, Bố chánh) nhưng do bất mãn với thời cuộc, ông đã cáo quan về quê sống cuộc đời ẩn dật với “bầu rượu túi thơ”. Ông đã thành danh trong giai đoạn này, được lịch sử ghi tên vào danh sách các nhà thơ yêu nước thế kỷ 19 với một di sản thơ chữ Hán, thơ Nôm có giá trị văn hóa cao. Nguyễn Khuyến sống và sáng tác thơ vào thời lúc “Nho tàn, Tây thịnh”, văn hóa Tây phương đã bắt đầu xâm nhập pha loãng tập quán, truyền thống lâu đời của xã hội Nho giáo Việt Nam. Chữ Quốc ngữ đã chính thức thay thế chữ Hán trong giao dịch, cách tính tuổi đã bắt đầu cách tính theo dương lịch xen lẫn cách tính theo âm lịch. Hiện nay cách tính tuổi theo dương lịch đã trở thành tập quán quen thuộc nhưng vào cuối thế kỷ 19 đây vẫn là vấn đề còn mới mẻ.

- Hai là: tài năng thơ của Nguyễn Khuyến nổi bật trên hai lĩnh vực: là nhà thơ trữ tình xuất sắc, đồng thời là nhà thơ trào phúng với tiếng cười châm biếm nhẹ nhàng kín đáo nhưng thâm thúy, chua cay rất đặc sắc. Ông cười bọn quan lại tham lam vơ vét hại dân, cười bọn hãnh tiến nhố nhăng, cười cái bi hài của nền Hán học cuối ngày tận số, cười Vua, cười Tây, cười cả chính mình… Nguyễn Khuyến đã sử dụng tài tình trò chơi chữ nhằm mục đích châm biếm , hài hước. Ví dụ Chu Mạnh Trinh từng đoạt giải nhất về thơ Nôm, Nguyễn Khuyến làm giám khảo có phê một bài làm Chu phật ý nên gửi tặng chậu hoa Trà là loại hoa “hữu sắc vô hương” ngụ ý nói Nguyễn Khuyến đau mắt không thấy sắc đẹp (cái hay trong thơ của Chu)!Nguyễn Khuyến biết ý tặng lại Chu bài thơ “Sơn trà” có câu “tầm thường tế vũ kinh xuyên điệp”(“thường khi mưa nhỏ cũng xuyên thủng lá” - tác giả mắng người tặng hoa Trà là “phường xỏ lá” với lời dịch: “mưa nhỏ những kinh phường xỏ lá”)! “Tiêu sắt thần phong khủng lạc già(có bản chép “oán lạc già”)”. Dịch nghĩa: “gió to luống sợ lúc rơi già”. Già là cái đài hoa nhưng cũng có nghĩa là cái bìu dái. “Lạc già” là “thót dái” ý tác giả mỉa mai Chu sợ “thót dái”.

Căn cứ vào hai đặc điểm trên, vận dung vào trường hợp Nguyễn Khuyến viết Di chúc cho thấy: tác giả viết Di chúc vào thời điểm giao thời giữa hai cách tính tuổi theo Âm lịch và theo Dương lịch. Theo Âm lịch là cách tính truyền thống tập quán phương đông đã quá quen còn cách tính theo Dương lịch là mới được du nhập còn mới mẻ. Viết Di chúc là lúc tác giả đã dự cảm năm Kỷ Dậu là năm cuối đời của mình. Việc có người biết trước ngày tận số của mình không phải là hiếm, nhất là với những người am hiểu Kinh Dịch. Nguyễn Khuyến đã đỗ đại khoa chắc hẳn không lạ gì Kinh Dịch. Trước khi chép Di chúc, Nguyễn Khuyến đã có bài thơ “Lụt năm Ất Tị” (1905) có câu “Tị trước, Tị này chục lẻ ba” (Tỵ trước 1893 đến 1905 là 13 năm) Bài thơ “Tự thọ” (1908) nói rõ: “Năm nay tớ đã bảy mươi tư”chỉ một năm trước khi chép Di chúc, chứng tỏ Nguyễn Khuyến đã thành thạo trong tính năm theo Âm lịch và chuyển sang cách tính theo Dương lịch, đã tính tuổi chính xác của mình. Đến khi chép Di chúc nhẩm lại năm sinh là Ất Mùi (1835) tác giả nhận thấy 1835 là con số ẩn chứa 2 con số 8 (8 và 3+5), năm cuối đời dự cảm là năm Kỷ Dậu với con số 1909 có chứa 2 con số 9. Theo Kinh Dịch, chữ số mà loài người dùng xuất xứ từ Bát Quái Chu Dịch bao quát hết thảy vạn vật, vạn sự trong thế giới tự nhiên. Bản thân chữ số có năng lượng, trường khí đặc định của nó, mỗi mặt riêng lẻ của chữ số đều có thuộc tính Âm Dương, Ngũ Hành nhất định. Số học kết hợp với Bát quái, Ngũ hành, phong thủy có thể đoán định đã được vận dụng vào rất nhiều lĩnh vực của cuộc sống như thiên văn, địa lý, quân sự, nhân mệnh... Trong số học con số 8 được xem là đại diện cho sự thành công, may mắn còn số 9 - số “dương cùng” càng có ý nghĩa hơn, được xem là con số của hạnh phúc an lành và thuận lợi, con số tượng trưng cho sự vĩnh cửu đẹp đẽ : nơi yên nghỉ vĩnh hằng được cho là có 9 con suối(cửu tuyền), nơi ngự trị của hoàng đế được đặt trên bệ có 9 bậc (cửu trùng)…

Với trình độ am hiểu và khả năng vận dụng Kinh Dịch và phát hiện năm sinh, năm cuối của đời mình đều có những “con số đẹp”(bát bát, cửu cửu) cùng với tính hài hước (Xuân Diệu gọi là “hu-mua”, tiếng Pháp houmour nghĩa là hài hước), Nguyễn Khuyến đã viết hai câu thơ mở đầu Di chúc nói rõ vòng đời của mình từ năm sinh đến năm mất là 74 tuổi (DL) 75 tuổi (ÂL) nhưng theo “cách chơi chữ, đùa vui” với con cháu. Từ thực tiễn như trên, hai câu: “Ngã niên trị bát bát; Ngã số phùng cửu cửu” phải dịch nghĩa: “Năm sinh thầy chứa 2 con số 8 (1835); số kết thầy gặp năm có 2 con số 9(1909)” tính ra là 74 tuổi Dương, tuổi Âm là 75 tuổi. Vì vậy, theo tôi, bài dịch Di chúc bằng chữ Hán không phải do tác giả tự dịch mà do người khác như các cụ cao niên nói là cụ Trần Tán Bình dịch là có cơ sở. Tác giả nói mình sống thọ 88 tuổi nhưng chép Di chúc vào năm 75 tuổi tức sớm trước 13 năm là điều vô lý. Nguyễn Khuyến khi viết Di chúc vào năm Kỷ Dậu còn hoàn toàn minh mẫn không thể viết: “thầy kém 2 tuổi đầy chín chục” một cách ngớ ngẩn như vậy! Trần Tán Bình vốn là môn sinh của cụ Nguyễn Khuyến từng đỗ Tiến sĩ, từng làm Đốc học, rồi Tuần Vũ… nhưng Trần Tán Bình không phải là Nguyễn Khuyến nên khi dịch di chúc của Nguyễn Khuyến, Trần Tán Bình cũng chỉ đạt ở mức chữ nghĩa thông thường chưa lột tả chất “hu-mua” của Nguyễn Khuyến trong 2 câu thơ mở đầu Di chúc. 

Lê Ngân

Chia sẻ bài viết


ĐỒNG HÀNH CÙNG DOANH NGHIỆP