Y tế - Sức khỏe Tin tức y tế

28/02/2017 - 14:06

Niềm vui chữa khỏi ung thư

TTH - Gần đây, qua các dữ liệu thống kê khoa học cũng như đánh giá chủ quan của các bác sĩ lâm sàng, tỷ lệ chữa khỏi bệnh ung thư ngày càng tăng. Những trường hợp thoát khỏi “án tử” mang tên ung thư không còn là “may mắn” và cá biệt.

Một ca phẫu thuật ung thư vú của tập thể y, bác sĩ bệnh viện TW Huế. Ảnh: Võ Nhân

Từ số liệu thống kê

Một nghiên cứu ở châu Âu (EUROCARE-4) đăng tải trên tạp chí European Journal of Cancer so sánh ở hai giai đoạn 1988-1990 và 1997-1999 cho thấy, mức gia tăng tỷ lệ sống còn của ung thư phổi, dạ dày và đại tràng lần lượt là 2% (từ 6% lên 8%), 3% (từ 15% lên 18%) và 7% (từ 42% lên 49%). TS. Riccardo Capocacci (Trung tâm Dịch tễ học, kiểm soát và chăm sóc y tế quốc gia Rome, Ý) nhận định: “Tỷ lệ này không chỉ bị chi phối bởi hoàn cảnh ban đầu (chẩn đoán và điều trị sớm) mà còn do có nhiều tiến bộ trong việc kiểm soát ung thư”. Ngoài ra, tỷ lệ bệnh nhân được chữa khỏi ung thư cũng cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa một số quốc gia châu Âu, giữa hai giới nam và nữ, giữa các lứa tuổi. Theo đó, đối với tất cả các loại ung thư, số lượng bệnh nhân được chữa khỏi có sự khác biệt giữa các nước, từ 21% đến 47% ở đàn ông và từ 38% đến 59% ở phụ nữ; cho thấy sự khác biệt trong công tác kiểm soát ung thư ở từng quốc gia, vì nó phản ảnh quá trình chẩn đoán và chữa trị, cũng như sự thành công trong việc ngăn chặn những ung thư nguy hiểm nhất”.

Tỷ lệ sống còn của phụ nữ cao hơn đàn ông đối với 21/26 loại ung thư. Phụ nữ chỉ có tỷ lệ sống sót thấp hơn đối với các ung thư bàng quang, đường mật và thanh quản. Đối với tất cả các loại ung thư, sau khi điều chỉnh sự khác biệt về quá trình phát triển ung thư theo giới tính, phụ nữ có lợi thế 2% so với nam giới về khả năng sống còn 5 năm (52% so với 50%). Đối với phụ nữ dưới 64 tuổi lợi thế này là 4%. Ngoài ra, tỷ lệ sống còn của người già (70 - 99 tuổi) thấp hơn bệnh nhân trung niên (55 - 69 tuổi).

Nguyên nhân, theo TS. Capocaccia, do giai đoạn bệnh tại thời điểm chẩn đoán: những bệnh nhân già hơn thường được chẩn đoán quá muộn, có nhiều bệnh lý nghiêm trọng đi kèm, cũng như thiếu sự chăm sóc cần thiết và chuẩn mực. Với những bệnh nhân trẻ tuổi, tỷ lệ sống còn 5 năm đối với tất cả các loại ung thư thay đổi từ  81% (khoảng tuổi 0-14) đến 87% (khoảng tuổi 15 - 24).

Sự cải thiện tỷ lệ sống còn càng thấy rõ đối với bệnh bạch cầu lympho cấp, ung thư hệ thần kinh trung ương ở trẻ em, và u lym-phô không Hodgkin ở người trẻ tuổi. Sự khác biệt này cũng thu hẹp ở quy mô quốc tế. Giáo sư Alexander M. M. Eggermont, Chủ tịch Tổ chức Ung thư châu Âu cho rằng, những con số thống kê phản ảnh sự tiến bộ vượt bậc trong việc chẩn đoán và điều trị ung thư, kể cả ở những quốc gia mà trước đó tỷ lệ chữa khỏi ung thư rất thấp.

Tỷ lệ tử vong do ung thư trung bình của thế giới, các nước đang phát triển và phát triển lần lượt là 59,7%,  67,8% và 49,4%. Ở Việt Nam không có con số chính thức, nhưng ước chừng quanh 75%, và chưa có thống kê về bất kỳ sự thay đổi nào qua từng thập niên.

Đến niềm vui sống còn

Bất kỳ một bệnh nhân ung thư nào cũng trông chờ ngày bác sĩ thông báo việc điều trị đã hoàn tất. Từ lúc đó, bắt đầu một hành trình mới: sự sống còn (survivorship).

Trong ung thư, theo dõi tình trạng sống còn sau điều trị là vô cùng quan trọng vì nó giúp kiểm tra định kỳ tình trạng sức khỏe của người bệnh, tình trạng bệnh hiện tại bao gồm các dấu hiệu tái phát tại chỗ hay di căn xa, một bệnh ung thư mới... hay thậm chí những biến chứng muộn của các phương pháp điều trị trước đó. Không một bác sĩ nào có thể khẳng định với bệnh nhân rằng, bệnh đã được chữa khỏi. Sống còn đã là điều kỳ diệu. Phổ biến trong thống kê ung thư là tỷ lệ sống còn 5 năm, cho thấy tỷ lệ phần trăm những người còn sống trong 5 năm kể từ ngày được chẩn đoán bệnh. Giờ đây, khi khả năng kiểm soát bệnh ngày càng cao với một số bệnh ung thư nhất định, đã có những thống kê tỷ lệ sống còn 10 năm, 15 năm...

Những vấn đề tâm lý, tinh thần vẫn còn đó: căng thẳng, trầm cảm, lo âu, mất ngủ... Một số bệnh nhân trở nên mạnh mẽ, tự tin hơn khi tham gia các hoạt động tình nguyện. Viết sách (tự truyện), chơi nhạc, vẽ tranh... được xem là những liệu pháp tốt. Anup Kumar, một nghiên cứu sinh ngành vật lý hạt nhân trường St. Stephen, Đại học Delhi (Ấn Độ), một bệnh nhân ung thư, đã tâm sự trong cuốn tự truyện “Joy of cancer” khá nổi tiếng: “Tôi nghĩ tới hàng triệu người không may mắc bệnh ung thư trên khắp thế giới, họ vẫn sống sót và có những đóng góp đáng kể cho xã hội... Tôi chưa bao giờ nghĩ ung thư là kẻ thù, bởi vì nếu vậy thì tôi biết rằng tôi chẳng bao giờ có thể tồn tại với nó... Nó đã làm cho tôi trở thành một con người hoàn chỉnh, một con người như tôi mong ước”.

Khevin Barnes, một nhạc sĩ, diễn giả người Mỹ, người sống sót trước căn bệnh ung thư, nói về liệu pháp âm nhạc: “... Và như thế, âm nhạc là một phương pháp trị liệu hiệu quả, một giai điệu dễ chịu hơn rất nhiều so với nỗi lo sợ tái phát. Tôi đã hồi phục căn bệnh của mình bằng cách như thế...”. Hay, thầy giáo Trần Công T., một bệnh nhân ung thư trực tràng giai đoạn IV, vẫn sống không có bệnh 4 năm sau điều trị, chỉ “chốt” lại một câu dưới trang thư điện tử: “Đúng là sau cơn mưa trời lại sáng. Dẫu có sao cũng đừng nên tuyệt vọng”.

TS.BS PHẠM NGUYÊN TƯỜNG

Chia sẻ bài viết


ĐỒNG HÀNH CÙNG DOANH NGHIỆP