02/09/2015 - 16:23

Rừng trả ơn...

TTH - Trong lộ trình phát triển ngành lâm nghiệp, mục tiêu của tỉnh không chỉ phát triển về số lượng mà đang hướng đến chất lượng rừng, nhằm để vừa tăng giá trị hàng hóa trên một đơn vị canh tác, vừa đáp ứng yêu cầu hội nhập sân chơi quốc tế.

Hiệu quả thiết thực

Những vùng gò đồi từ Phong Điền, Hương Trà, Hương Thủy, Phú Lộc cho đến vùng núi Nam Đông, A Lưới giờ đây đã phủ màu xanh ngút ngàn trên những vùng đất trống, những hố bom sau chiến tranh. Vùng căn cứ địa cách mạng Phong Mỹ (Phong Điền) từng một thời chỉ toàn đất trống đồi núi trọc, dân số thưa thớt, nhưng sau gần 10 năm trở lại, người dân tận dụng tất cả đất trống, kể cả một khoảnh nhỏ quanh vườn nhà cũng được phủ xanh bằng cây keo, trầm dó, cao su...
Đầu tư cho chất lượng rừng trồng đang được nhiều người dân, tổ chức hướng đến
Đến thôn Tân Mỹ (Phong Mỹ), hỏi về chuyện trồng rừng kinh tế, ai cũng nhắc đến gia đình ông Văn Công Hùng. Sau hơn 15 năm gắn bó với nghề trồng rừng, cuộc sống của gia đình ông khấm khá lên rất nhiều. Ông Hùng trò chuyện: “Nhìn lại cách đây mấy năm, gia đình tôi bây giờ đã đổi đời hẳn. Tiền bạc đủ sức để chu cấp cho con học hành, mua sắm tiện nghi sinh hoạt. Quanh làng này, nhiều nhà cũng giàu lên một cách bền vững. Có nhà sắm ô tô, xe ben, xe tải để phục vụ vận chuyển cây gỗ sau thu hoạch…”.
Tăng cường bảo vệ, chăm sóc, khoanh nuôi tái sinh rừng để nâng tỷ lệ phủ xanh
Anh Trương Công Quốc, ở thị trấn Phong Điền (Phong Điền) vẫn chưa quên những năm tháng gian nan vất vả khi bám vào mấy ha cao su ở vùng gò đồi. Để có được vài chục kg mủ cao su mỗi ngày như bây giờ, lúc đó gia đình anh Quốc phải chạy vạy vay mượn, thế chấp nhà để vay ngân hàng. Có thời điểm anh suýt phải bán nhà để trả nợ. Giờ đây, nhìn những ha cao su cho thu hoạch, anh Quốc cảm thấy hạnh phúc vì không chỉ cải thiện cuộc sống gia đình mà còn đem lại môi trường xanh cho vùng đất vốn trước đây ít ai đặt chân đến.
Với sự chuyển đổi nghề rừng của người dân, rừng tự nhiên dần ít bị xâm hại và ngày càng tăng trưởng tốt, góp phần nâng độ che phủ rừng toàn tỉnh sau 20 năm từ 37,1% năm 1995 (187 nghìn ha) lên 57% năm 2015, cao hơn bình quân chung của cả nước 15%. Đến nay, trong tổng diện tích đất quy hoạch lâm nghiệp toàn tỉnh, đất có rừng đã đạt tỷ lệ hơn 92,6%. Trong đó, diện tích rừng tự nhiên là 205.993ha, gồm 69.659ha rừng đặc dụng, 76.439ha rừng phòng hộ và 59.895ha rừng sản xuất; diện tích rừng trồng là 94.854ha, gồm 1.978ha rừng đặc dụng, 16.879ha rừng phòng hộ và 75.996ha rừng sản xuất.
Phong trào trồng rừng kinh tế đã tạo nên sức sống mới cho nhiều vùng quê, mở ra hướng làm ăn mới cho nhiều hộ dân vùng xuôi lẫn vùng cao. Nhiều gia đình đi kinh tế mới từ khoảng 20, 30 năm giờ đã có trong tay ít nhất vài ha rừng. Những thế hệ đi khai hoang lập nghiệp này đã biến những vùng đất hoang hóa ở vùng sâu, vùng xa thành những vùng đất màu mỡ bạt ngàn.
Trồng rừng đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, giải quyết việc làm cho hàng chục ngàn lao động, giúp nhiều hộ gia đình xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu. Riêng lĩnh vực khai thác rừng trồng đã trở thành ngành sản xuất đem lại doanh thu khá lớn. Thử làm phép tính, trong 75.996 ha rừng trồng kinh tế, bình quân cứ 6 năm khai thác 1 lần thì ít nhất một năm khai thác được hơn 12.500ha. Và nếu tính mức giá trung bình cây gỗ nhỏ khoảng 80 triệu đồng/ha, như vậy doanh thu của ngành lâm nghiệp riêng khai thác gỗ rừng trồng gần 1.000 tỷ đồng mỗi năm. Đó là chưa kể chuỗi liên kết các khâu từ sản xuất cây giống, làm đất, trồng, chăm sóc, khai thác đến vận chuyển giải quyết việc làm và thu nhập ổn định cho rất nhiều nhân công.
Hướng đến tham gia vào chuỗi giá trị hội nhập quốc tế
Theo ông Phạm Ngọc Dũng, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp, không chỉ rừng trồng, đối với rừng tự nhiên, trong đó có rừng phòng hộ đang tạo ra 2 giá trị rất lớn về môi trường và kinh tế. Rõ nhất là trong những đợt nắng nóng kéo dài, Thừa Thiên Huế vẫn đảm bảo nguồn nước nhờ nguồn dự trữ từ các hồ thủy điện, thủy lợi, nhưng chung quy chính là nhờ có cây rừng giữ nước. Từ thủy điện và nước sinh hoạt, mỗi năm Qũy Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh thu được gần 20 tỷ đồng để chi trả dịch vụ môi trường rừng phục vụ quản lý, phát triển rừng. Đó là chưa kể sau này khi rừng tự nhiên của tỉnh tham gia vào chuỗi giảm phát thải khí nhà kính REDD+ sẽ còn thu được tiền từ việc bán chỉ tiêu giảm phát thải và mở ra nhiều cơ hội phát triển du lịch sinh thái…
Từ sau năm 2000, việc chuyển từ trồng cây hạt sang cây hom với giống keo lai hom, keo tai tượng trồng ở vùng gò đồi và giống keo lưỡi mác trồng rừng phòng hộ vùng cát đánh dấu một cuộc cách mạng về giống, làm tăng chất lượng rừng trồng. Thành công trong việc đưa giống keo lưỡi mác trồng rừng phòng hộ vùng cát đã ngăn tình trạng cát bay, cát nhảy, chống hạn và các mô hình kinh tế trang trại, gia trại cũng xuất phát từ đó. Bên cạnh đó, với 26,8 ha rừng ngập mặn tự nhiên và 25 ha rừng ngập mặn tập trung, phân tán được trồng mới, cùng với kế hoạch trồng khoảng 200 ha rừng ngập mặn và 1 triệu cây ngập mặn phân tán trong các khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản, ao hồ nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2015-2020 sẽ góp phần tăng tính đa dạng sinh học, hỗ trợ phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững, ứng phó với biến đổi khí hậu…   
Tuy nhiên, để rừng thực sự phát triển bền vững, ông Phạm Ngọc Dũng cho rằng, mục tiêu của tỉnh đang hướng đến là tăng chất lượng rừng. Ngành lâm nghiệp đang triển khai thực hiện giải pháp tăng giá trị rừng trồng bằng việc khuyến khích các tổ chức, cá nhân trồng rừng đầu tư thâm canh, áp dụng giống cây chất lượng cao từ cây nuôi cấy mô cho sinh trưởng nhanh và chất lượng, từng bước chuyển hướng từ trồng rừng lấy gỗ dăm sang trồng gỗ xẻ và rừng có chứng chỉ quốc tế FSC để tăng giá trị, thương hiệu, tham gia được vào các thị trường quốc tế. Giải pháp tổ chức lại sản xuất, ngành tập trung quy hoạch lại vùng trồng gỗ dăm và vùng trồng gỗ xẻ. Vì doanh thu từ 1 ha cây gỗ dăm chỉ trên dưới 80 triệu đồng, trong khi cây gỗ lớn có thể đạt đến 150 hoặc 200 triệu đồng/ha. Dự kiến, trong giai đoạn 2015- 2020, ngành sẽ tham mưu quy hoạch trồng khoảng 2.500 ha rừng để lấy gỗ lớn và chuyển hóa dần trong những năm tiếp theo. Các công ty lâm nghiệp cũng phải sớm sắp xếp lại bằng hình thức cổ phần hóa để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc thứ ba cần làm là tổ chức liên doanh, liên kết giữa các hộ trồng rừng thành các HTX, tổ hợp tác, tiến đến tham gia đăng ký cấp chứng chỉ FSC, tạo thuận lợi trong tiến trình tham gia vào chuỗi giá trị hội nhập thị trường quốc tế. Đến nay, diện tích rừng được cấp chứng chỉ FSC trên toàn tỉnh còn quá ít, chỉ mới vài chục ha. Dự kiến trong năm 2015- 2016 sẽ có thêm 2.000 ha rừng của một số tổ chức, cá nhân được cấp chứng chỉ.

 

Bài, ảnh: Hoài Thương

Chia sẻ bài viết


ĐỒNG HÀNH CÙNG DOANH NGHIỆP