Văn hóa - Nghệ thuật Thông tin văn hóa

11/07/2010 - 05:37

Sự hồi sinh của chữ

TTH - (Đọc Vị mặn hồi sinh - Thơ Hải Trung - NXB Hội Nhà văn, 2009) 

Vị mặn hồi sinh của Hải Trung  là tập thơ hiếm hoi nếu không muốn nói duy nhất sang trọng xét về mặt hình thức.

Bìa trình bày có vẻ đơn giản song là sự hội tụ của rất nhiều “cái nháp” để trở thành một chỉnh thể đạt tính thẩm mỹ cao. Những linh tự hiểu theo nghĩa đen được Hải Trung làm mờ như phủ một lớp sương mỏng, cho phép người ta có thể hiểu ngược lại ấy là sự hồi sinh của con chữ vốn thường bị bóp méo hình hài rồi mặc cả với nàng Thơ kiều diễm.
 
Đọc Vị mặn hồi sinh tôi có cảm tưởng, Hải Trung xem thơ như một thứ cổ vật: hiếm và quý. Có lẽ vậy chăng mà phải mười năm sau Cho từng ánh lửa (1999) anh mới làm một cuộc trưng - bày - thơ miễn phí để thiên hạ có thêm lần “Nghĩ về công việc sáng tạo” nặng nhọc đến nhường nào.
 
Thơ quăng tôi vào đám đông đến chẳng kịp nhận ra mình, chẳng kịp nhận ra một Hải Trung với lần đầu tiên góp khuôn mặt vào giữa Hội thơ đầy ảo tưởng về sự xưng tụng đãi bôi, choáng lộn của thứ ngôn từ đã được đánh bóng. Thì bình tâm xốc lại bóng mình tránh dẫm lên câu chữ. Bằng cách này, Hải Trung thuộc trong số ít người tỉnh táo và có phần lung linh trong vũ điệu thời gian.
 
Cho đến một ngày, tình cờ phát hiện ra nền phế tích loang từ ngực thiếu phụ, Hải Trung nghiễm nhiên trở thành một nhà khảo cổ; anh không chỉ tìm được trong lòng đất mảnh bom, mảnh đạn, bật lửa zippo, thắt lưng hoen rỉ mà hơn thế, trong sự trầm tư về chiến tranh, bất chợt chiêm cảm ảnh tượng hôm qua trời còn đạn xước - một khoảnh khắc ảnh khá đắt, và đau, ẩn khuất giữa vô vàn mảnh vỡ thời không.
 
Trên nền suy tưởng đầy triết lý ấy, Hải Trung còn có nhiều câu thơ đẹp đến bất ngờ:
 
- xác chanh vàng gió nhặt từ thăm thẳm phố
- chẳng cổ tích ánh mắt vẫn đẫm màu truyền thuyết
 
Hay:
           
- đêm cũng ký sinh lên bầu trời muôn triệu vì sao treo lửng
 ngày ký sinh dưới mặt đất muôn triệu bóng người
 
Thật thú vị, giữa muôn triệu bóng người kia, ta vẫn dễ dàng nhận ra dáng dấp nhân vật chính trong thơ anh với mái tóc mê hoặc cả trời chiều. Dẫu cho Hải Trung tự biết mình đã cũ đi trên khuôn mặt của em khi những tờ lịch đã ào sang bờ khác. Cứ như ngày bỏ quên một giấc mơ. Còn anh, đã bỏ quên chiếc bóng/ giữa canh khuya chẳng nhớ để mang về...
 
Bằng cách dụng ngữ đa sắc, tỉ mỉ đến... bực mình trong từng gam màu thể hiện, Hải Trung đã tạo ra nhiều hình ảnh thơ hoàn toàn mới, sinh động. Tôi đã mạn phép chọn 4 “mảng” trong 4 bài thơ khác nhau để cố ghép thành một bức lập thể như tên của một trường phái tranh hiện đại:
 
- tiếng cồng sặc hơi men
- mắt của noọng là vì sao rực lửa
- đường trở về gập ghềnh từng hố nhớ
- câu thơ rơi vãi phía sân phơi
 
Khác nữa, đôi khi Hải Trung còn ghép thể ngũ ngôn trên cơ sở xoá ranh giới để trở thành những câu thơ mười chữ uyển chuyển, mở ra chiều rung cảm sâu xa:
 
-  ô cửa chói đằng tây, như vốc đầy cát bỏng
-  mực, mồ hôi, nắng... chảy trên chân trời uốn cong
 
Tôi đọc kỹ 27 bài thơ trong Vị mặn hồi sinh, thấy thiêu thiếu một cái gì, bèn đọc lại. Ngoài một số cặp lục bát được xen vào thể tự do, toàn tập chỉ vỏn vẹn có 2 bài thơ là “víu” vào hồn dân tộc. Nghĩ thêm về công việc sáng tạo của Hải Trung, tôi đã không khó tìm ra dẫn chứng, vì nó sờ sờ trước mắt với tư cách là một cặp “đôi lứa xứng đôi”:
 
đãi bôi thường trực trên môi
câu thơ non giữa tao nôi người cầm
 
Vậy, Thơ Hải Trung là quá trình diễn hóa ngôn từ thông qua sự biểu lộ trên nét mặt của chủ thể sáng tạo. Ở đấy ta dễ nhận ra nỗi lặng yên của từng con chữ mà chúng gần như không còn cơ hội xê dịch mặc dầu chưa hẳn đã ngồi đúng chỗ.
Thử đọc nguyên văn một bài thơ:
 
Thắc thỏm mênh mông
thắc thỏm dòng sông
những bọt sóng cồn lên theo dấu thuyền trôi về ngày ấy
nước duyềnh lên từ cũ
để lại nàng Kiều viết hoa
 
Buồn trông chiều hôm tượng Nguyễn
giũ áo lên non chín mươi chín đỉnh Hồng
xác chanh vàng
gió nhặt từ thăm thẳm phố
 
Thắc thỏm câu thơ mắc cạn đáy sương mờ
một bồ chữ ánh lên chưa kịp thổ lộ.
 
(Ngày xuân đọc lại một đoạn Kiều)
 
Hải Trung là một người làm việc hết sức nguyên tắc, nên anh cũng có nguyên tắc tổ chức ngôn từ riêng của mình. Hơn ai hết, khi tìm hiểu về Thơ trên điện Thái Hoà(*), anh hiểu rõ về những cổ thi của các bậc vua chúa Nguyễn, cũng như khi tìm hiểu về Chơi chữ Hán Nôm, những bài thơ độc đáo(**), anh lại hiểu rõ về bài thơ chữ Hán Vũ trung sơn thủy của vua Thiệu Trị được cẩn xà cừ trên điện Long An có đến 64 cách đọc.
 
Nếu vậy, hai câu kết của Hải Trung, tôi cũng muốn đưa ra một “cách đọc” mới hầu mong dịch chuyển sự tồn tại này sang một tồn tại khác:
Một bồ chữ ánh lên...
thắc thỏm câu thơ mắc cạn đáy sương mờ.
 
Có thể nhiều người sẽ cười tôi vì thích một câu thơ có vẻ giản đơn của Hải Trung: Những cánh tay dong cao nhiều lúc chưa chắc đã cao hơn vài cánh tay không dong khác. Đúng vậy. Trong cuộc sống nhiều người dong cả hai tay song vẫn không đủ để nâng mình khỏi đám đông. Trong hệ thống ngữ nghĩa cũng luôn tiềm tàng sức sống vô cùng mãnh liệt như bao sinh mệnh khác. Sự tín nhiệm của Ngôn Từ dành cho Nhà Thơ tùy thuộc vào người đó sử dụng chúng như thế nào để có được một chỉnh thể thoát lên năng lực điều hành của trí tuệ.
 
Nếu hiểu theo nghĩa đó, việc tôi dẫn ra toàn câu thơ hay (theo cá nhân tôi) trong Vị mặn hồi sinh dễ khiến một số câu thơ khác (chưa được dẫn ra đây) không vừa lòng với chính tác giả đã tạo ra nó...
-----------
(*)   Luận văn Thạc sĩ của Hải Trung.
(**)   Tên một tập sách của Hải Trung (Nxb. Thuận Hoá, 2002).
 
Nhụy Nguyên
 
Chia sẻ bài viết


ĐỒNG HÀNH CÙNG DOANH NGHIỆP