08/09/2014 - 11:32

Thầy Phạm Kiêm Âu, tấm gương mãi sáng

TTH - Cuốn sách ra mắt bạn đọc đúng vào dịp khai giảng năm học mới và nhân kỷ niệm 20 năm ngày mất của một người thầy nổi tiếng ở Huế. Một cuốn sách dày 600 trang khổ lớn, có sự góp mặt của trên 70 tác giả trong và ngoài nước, với hàng trăm ảnh tư liệu quý ghi lại hình ảnh thầy - trò từ những năm 1952 - 1953 ở Quảng Bình, cho đến ngày thầy về hưu, đã khắc họa sinh động chân dung một nhà giáo dục tâm huyết với nghề, đồng thời gợi cho chúng ta nghĩ đến những bài học có thể vận dụng trong sự nghiệp chấn hưng nền giáo dục nước nhà hiện nay.

 
Ngày 7-9, tại Trường THPT Hai Bà Trưng, gia đình thầy Phạm Kiêm Âu phối hợp với Nhà xuất bản Đại học Huế, Trường THPT Hai Bà Trưng giới thiệu tập tuyển các bài viết về nhà giáo Phạm Kiêm Âu, cựu giáo viên Trường THPT Hai Bà Trưng - Đồng Khánh, Huế. Tập sách “Thầy Phạm Kiêm Âu - Có một người thầy như thế” gồm 70 bài viết, sưu tập về những năm đứng trên bục giảng của nhà giáo Phạm Kiêm Âu và bài viết của đồng nghiệp, học trò về ông do vợ chồng người con gái là ông bà Phạm Thị Anh Nga và Bửu Nam tập hợp, chủ biên.
HG
Xin được nói ngay đến một điều gần như là nghịch lý: Một thầy giáo được cả vạn học sinh, trong đó có các trí thức, các nhà văn tên tuổi như Nguyễn Lương Phán, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Trần Thùy Mai, Quế Hương, Trần Viết Ngạc… hết lòng kính phục, lại không gắn với một học vị, một sự vinh danh nào! Có thể hiểu được điều đó khi đọc ở trang thứ nhất, trong một “cuốn sổ đặc biệt” dòng chữ được kẻ nét lớn, chân phương, trang trọng, có ý nghĩa thiêng liêng như một lời thề: TỔ QUỐC TRÊN HẾT. TẤT CẢ CHO TỔ QUỐC, VÌ TỔ QUỐC, CHỈ VÌ TỔ QUỐC.”… “Thế mà đáng tiếc thay, trước đây cũng như bây giờ, vì chỉ biết nghĩ đến lợi ích cục bộ của bản thân hay gia đình và phe nhóm, hoặc vì chịu ảnh hưởng quá sâu đậm của tư tưởng ngoại lai, không ít người đã hữu ý hay vô tình đặt lên trên Tổ quốc một giá trị khác!” (Trích từ bài của Hà Thúc Hoan). Cũng trong bài viết này, chúng ta được biết, ngay sau “Lời thề thiêng liêng” trên, thầy Phạm Kiêm Âu đã ghi “năm điều nguyện ước sâu sắc và độc đáo”: 1) Tôi nguyện sẽ chịu có một thân hình không tráng kiện, rất có thể thường đau ốm, hoặc ho lao. 2) Tôi nguyện sẽ chịu cảnh giúp người, người lại vong ân, và người rất có thể lấy ân làm oán. 3) Tôi nguyện sẽ chịu sự bạc đãi ức hiếp. 4) Tôi nguyện sẽ chịu sự nghèo. 5) Tôi nguyện sẽ chịu sống tối tăm suốt đời.
“Năm điều nguyện” nghe qua cũng… khá ngược đời, nhưng ngẫm kỹ, đây là một lẽ sống cao cả. “Bình luận” về điều nguyện thứ ba, tác giả Hà Thúc Hoan cho rằng: “Thầy Phạm Kiêm Âu đã nguyện sống theo tâm từ bi, theo hạnh nhẫn nhục của một vị Bồ Tát!”. Còn với điều nguyện thứ 5, nghe như “vô lý”, ông viết: “… Tôi nghĩ ở đây thầy dùng cách nói có vẻ nghịch lý để buộc người nghe phải động não, phải suy nghĩ kỹ để tìm chỉ ra ý tưởng ở dạng tiềm năng, như viên ngọc đẹp ẩn giấu ở bên trong viên đá thô cứng, xấu xí… Thầy đã thể hiện sâu sắc ý nghĩa của chữ “VÔ” của triết Đông…
Chỉ cần ngẫm “Lời thề thiêng liêng” và “Năm điều nguyện” của thầy Phạm Kiêm Âu, chúng ta đã có thể hiểu vì sao khi chàng học sinh quê Sa Đéc mới 17 tuổi đã tham gia cách mạng, bị giam cầm, được thả ra lại sung vào phong trào “Thanh niên tiền phong” do bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đứng đầu hồi 1945, rồi biểu tình đòi trả tự do cho Trần Văn Ơn, khiến thầy lại bị bắt, và buộc rời Nam Bộ năm 1950 rồi bị đẩy ra Đồng Hới - một thị xã cực bắc vùng đất tạm bị chiếm; chúng ta cũng có thể hiểu vì sao thầy Phạm Kiêm Âu không hề nhắc đến “thành tích kháng chiến”, không hề “khiếu kiện” ngay cả khi được bố trí làm tạp vụ ở trường phổ thông năm 1976! Cũng dễ hiểu vì sao một người thầy mô phạm vào hạng nhất vùng “đất học” xứ Huế, đứng lớp nhiều năm tại các ngôi trường danh tiếng như Quốc học, Đồng Khánh, Đại học Sư phạm Huế, lại không nhận một danh hiệu, một sự khen thưởng nào! Trước sau, thầy Âu vẫn chỉ là thầy Âu! Mà suy cho cùng, nếu sống cho thật xứng đáng chữ “Thầy” thì đó là danh hiệu cao quý nhất.
Với lẽ sống mô phạm như thế, nhắc “thành tích” hay những lời tán tụng của học trò đối với thầy, hẳn không làm thầy hài lòng. Chỉ xin kể một việc cụ thể mà thầy kiên trì làm trong suốt mấy chục năm dạy học rất đáng được ghi vào sách “Kỷ lục Việt Nam” và có lẽ các thầy cô giáo ngày nay cũng nên noi gương: Mỗi năm, thầy dành một cuốn sổ cho một trường, trong đó mỗi lớp có dán ảnh học sinh theo sơ đồ trong lớp và ghi chép riêng những nhận xét của thầy đối với mỗi học sinh. Có tất cả 64 cuốn sổ như thế. Để “quản lý” và hiểu học sinh kỹ lưỡng, đầu năm học, thầy còn làm “phiếu lý́ lịch” để mỗi học sinh cho thầy biết hoàn cảnh, không chỉ tên cha mẹ, chỗ ở, nghề nghiệp… mà còn có các mục “Đi học bằng gì? / Từ nhà đến trường độ mấy phút? / Họ và tên người bạn cùng lớp ở gần nhà? / Họ và tên bạn thân, lớp nào? Trường nào?...” Với sự tôn trọng sự riêng tư của học sinh, tất cả phiếu được thầy giữ bí mật, rồi trả lại cho từng học sinh, sau khi ghi lại những lưu ý cần thiết.
Chỉ với mấy chục “cuốn sổ đặc biệt” ấy, đến cuối đời, thầy Phạm Kiêm Âu có hạnh phúc có lẽ ít có thầy giáo nào sánh được: thầy luôn có hình ảnh mấy ngàn học sinh bên cạnh mình; và ngược lại, mấy ngàn con người từng học với thầy Âu sẽ có may mắn hơn người - dù ở mọi phương trời, dù đã thành ông nọ bà kia, nếu muốn tìm lại hình ảnh tuổi thanh xuân trong trẻo của mình cùng với bạn bè, chỉ việc trở lại căn nhà của thầy bên sông Hương, cho dù thầy đã “đi xa” tròn hai chục năm… 

Nguyễn Khắc Phê

Chia sẻ bài viết


ĐỒNG HÀNH CÙNG DOANH NGHIỆP