Y tế - Sức khỏe Tin tức y tế

31/03/2018 - 06:00

GIÁO SƯ CAO NGỌC THÀNH, PHÓ CHỦ TỊCH HỘI PHỤ SẢN VIỆT NAM, HIỆU TRƯỞNG, GIÁM ĐỐC BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUẾ:

Tỉ lệ vô sinh trong các cặp vợ chồng trẻ ngày càng tăng

TTH - “Theo thống kê dịch tễ mới nhất, tỉ lệ vô sinh ở Việt Nam chiếm 7-8%, điều đó có nghĩa là cứ 100 cặp vợ chồng lập gia đình thì có 8 cặp có nhu cầu điều trị vô sinh và hiếm muộn. Đáng nói, tỉ lệ vô sinh có xu hướng ngày càng tăng lên”, GS.TS.BS. Cao Ngọc Thành, Phó Chủ tịch Hội Phụ sản Việt Nam, Chủ tịch Hội Phụ sản Thừa Thiên Huế, Hiệu trưởng, Giám đốc Bệnh viện Trường đại học Y dược Huế cho biết.

Giáo sư Cao Ngọc Thành

* Nguyên nhân nào khiến tỉ lệ vô sinh ngày càng tăng lên, thưa giáo sư?

Các yếu tố được xem có liên quan đến sự gia tăng tỉ lệ vô sinh là: Thứ nhất, tuổi lập gia đình của phụ nữ muộn hơn so với trước đây. Tuổi lập gia đình muộn hơn nên một số yếu tố liên quan tới chức năng buồng trứng bị giảm, đặc biệt sau 35 tuổi. Nguyên nhân thứ hai là có thể phơi nhiễm với một số yếu tố nguy cơ khác như các bệnh lý nhiễm trùng đường sinh dục, u xơ tử cung…

Về tỉ lệ vô sinh, khoảng 40% là nguyên nhân từ phía người chồng và 40% từ người vợ, 10% từ cả vợ và chồng và 10% là vô sinh không có lý do (vô sinh không cắt nghĩa được). Về phía người chồng, nguyên nhân vô sinh do một số nhóm sau: các bất thường liên quan đến chất lượng tinh trùng, bất thường về giải phẫu, bất thường liên quan đến các bệnh lý, như nhiễm trùng đường sinh sản đặc biệt là bệnh lây truyền qua đường tình dục hoặc quai bị và một số nguyên nhân liên quan đến yếu tố tâm lý. Về phía người vợ, nguyên nhân vô sinh do rối loạn rụng trứng (phóng noãn), viêm nhiễm gây nên tắc nghẽn vòi tử cung, các nguyên nhân ở tử cung như u xơ…, các nguyên nhân do cổ tử cung và các nguyên nhân thuộc về tâm lý.

* Vậy khi nào cần phải nghĩ đến vô sinh và phải đi khám vô sinh?

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), vô sinh là tình trạng cả hai vợ chồng lập gia đình mong muốn có con nhưng người vợ vẫn không mang thai sau 12 tháng chung sống. Có hai loại vô sinh: vô sinh nguyên phát và vô sinh thứ phát. Vô sinh nguyên phát là trong tiền sử chưa có thai lần nào; còn vô sinh thứ phát là trong tiền sử đã có một lần có thai (lần có thai này có thể thành công tức sinh ra đứa trẻ sống hoặc có thể thất bại - sẩy thai) rồi mà khi mong muốn có thai lại không có thì gọi là vô sinh thứ phát.

Tuy nhiên điều đó chỉ có ý nghĩa tương đối. Ví dụ ở người phụ nữ nếu kinh nguyệt không đều (vòng kinh thưa hoặc không có kinh), hoặc có một số bệnh lý rõ ràng liên quan đến vùng chậu, hoặc những người phụ nữ lập gia đình sau 35 tuổi thì thời gian để điều trị vô sinh có thể sớm hơn, ví dụ như 6 tháng sau khi cố gắng để có con mà không có con thì cần đi khám điều trị vô sinh chứ không cần để 1 năm mới đi. Hoặc đối với người chồng có tiền sử quai bị từ nhỏ hoặc có các bệnh lý nhiễm trùng đường sinh dục rõ ràng thì cũng nên đến cơ sở y tế để được bác sĩ thăm dò chẩn đoán sớm hơn. Ngược lại, một số trường hợp thời gian có thể kéo dài hơn 12 tháng mới cần đi khám điều trị, ví dụ như hai vợ chồng không có điều kiện sống với nhau nhiều do công việc.

GS.Cao Ngọc Thành thăm khám trẻ sơ sinh tại Phòng Nhi sơ sinh, Bệnh viện Trường đại học Y Dược Huế

Hiện nay, nhiều cặp vợ chồng có điều kiện tìm hiểu về sức khỏe sinh sản nên đã đến khám vô sinh sớm hơn chứ không như trước đây, có khi 4 đến 6 năm sau lập gia đình mới đi điều trị vô sinh.

* Giáo sư có thể cho biết các phương pháp thăm dò chẩn đoán và điều trị vô sinh hiện nay? Các phương pháp này đem lại hiệu quả như thế nào trong điều trị vô sinh? 

Hiện nay, có nhiều phương pháp để thăm dò chẩn đoán và các phương pháp điều trị mang lại kết quả cao. Sau khi thăm dò, người ta sẽ xếp nhóm các loại nguyên nhân vô sinh như vô sinh do rối loạn rụng trứng, vô sinh do tắc vòi tử cung, vô sinh do tử cung, vô sinh do cổ tử cung, và vô sinh không giải thích được. Tùy theo các nhóm nguyên nhân sẽ có các phương pháp điều trị đặc hiệu liên quan. Tuy nhiên có một khuyến cáo là cần tôn trọng khả năng sinh sản tự nhiên và can thiệp đúng thời điểm với nguyên tắc điều trị đi từ đơn giản đến phức tạp, và đi theo con đường sinh lý tự nhiên là tốt nhất. Cho dù có thể điều trị bằng thuốc, bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm,… nhưng mục đích cuối cùng khi điều trị là tiếp cận đến sinh lý sinh sản tự nhiên, đưa về giống như tự nhiên.

Bên cạnh các phương pháp hỗ trợ điều trị vô sinh như trên, chúng ta có thể sử dụng phương pháp điều trị vô sinh bằng thụ tinh trong ống nghiệm. Thụ tinh bằng ống nghiệm được chỉ định trong các trường hợp mà các nguyên nhân vô sinh không giải quyết được bằng con đường tiếp cận sinh lý sinh sản như trên. Ví dụ như trường hợp bị tắc hai vòi tử cung mà phẫu thuật không thành công, hoặc trường hợp lạc nội mạc tử cung, một số trường hợp liên quan đến chất lượng tinh trùng như thiểu năng tinh trùng nặng, một số trường hợp đặc biệt khác mà điều trị bằng các phương pháp trên không thành công thì có thể chỉ định thụ tinh trong ống nghiệm.

* Lời khuyên của giáo sư đối với các cặp vợ chồng đang mong muốn có con mà vẫn chưa có con?

Lời khuyên thứ nhất là nên đi điều trị vô sinh sớm hơn vì thời gian vô sinh càng dài và đặc biệt tuổi phụ nữ càng lớn khả năng điều trị sẽ bị giới hạn. Thứ hai, nếu phát hiện hoặc có một số bệnh lý phụ khoa liên quan đến sinh sản, như rối loạn kinh nguyệt, các viêm nhiễm đường sinh dục nên điều trị sớm hơn. Thứ ba, nên tìm đến các cơ sở y tế có chức năng điều trị vô sinh hiếm muộn để được tư vấn và điều trị; không nên áp dụng các phương pháp điều trị không chính thống vì có thể ảnh hưởng đến tương lai sinh sản lâu dài.

Ngành y tế đặc biệt là ngành sản phụ khoa cần xây dựng hoặc hỗ trợ để các trạm y tế cơ sở có thể tư vấn và điều trị ban đầu các trường hợp vô sinh hiếm muộn, bởi vì có khi chỉ cần tư vấn đúng hoặc giải quyết các trường hợp viêm nhiễm đường sinh dục dưới là đã có thể giúp cho cặp vợ chồng có con; đối với các trường hợp khác trạm y tế cơ sở có thể giới thiệu lên tuyến cao hơn để có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản vô sinh hiệu quả hơn.

* Xin cảm ơn giáo sư!

NGỌC HÀ (Thực hiện)

Chia sẻ bài viết


ĐỒNG HÀNH CÙNG DOANH NGHIỆP