Chính trị - Xã hội Câu chuyện pháp đình

10/08/2010 - 22:09

Trợ cấp tiền tuất BHXH không phải là di sản thừa kế

TTH - Tôi đang dự định lập di chúc. Sau khi chết, ngoài một số tài sản là nhà đất, tôi thuộc trường hợp được hưởng trợ cấp tiền tuất, do quỹ Bảo hiểm xã hội (BHXH) chi trả. Vậy, xin hỏi liệu bây giờ, tôi có thể lập di chúc để lại số tiền tuất đó cho những người thừa kế được không? (Nguyễn Chí Bảo, phường Thuỷ Lương, thị xã Hương Thuỷ).

- ThS. LS Nguyễn Văn Phước, Trưởng Văn phòng Luật sư Huế: Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết (điều 646 Bộ luật Dân sự - BLDS); trong đó, di sản bao gồm: tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác (điều 634 BLDS). Còn trợ cấp tiền tuất là một chế độ BHXH và đây là một quyền về tài sản gắn liền với người chếtphát sinh khi người lao động chết (nếu họ thuộc trường hợp hưởng chế độ BHXH này). Tuy nhiên, pháp luật đã quy định và xác định cụ thể cho những người được hưởng số tiền tuất này; do đó, về nguyên tắc, người lập di chúc không thể định đoạt số tiền tuất này. Hay, nói cách khác, việc phân chia số tiền trợ cấp tuất, do BHXH chi trả, không phụ thuộc vào ý chí của người để lại di chúc.

Theo quy định tại khoản 2, điều 36 Nghị định 152/2006/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc, thân nhân của người lao động chết được nhận trợ cấp tuất hàng tháng, bao gồm:
 
a) Con chưa đủ 15 tuổi (bao gồm: con đẻ, con nuôi hợp pháp, con ngoài giá thú được pháp luật công nhận, con đẻ mà khi người chồng chết người vợ đang mang thai); con chưa đủ 18 tuổi, nếu còn đi học; con từ đủ 15 tuổi trở lên, nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;
 
b) Vợ từ đủ 55 tuổi trở lên hoặc chồng từ đủ 60 tuổi trở lên; vợ dưới 55 tuổi, chồng dưới 60 tuổi, nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;
 
c) Cha đẻ, mẹ đẻ, cha vợ hoặc cha chồng, mẹ vợ hoặc mẹ chồng, người khác mà đối tượng này có trách nhiệm nuôi dưỡng, nếu từ đủ 60 tuổi trở lên đối với nam và đủ 55 tuổi trở lên đối với nữ;
 
d) Cha đẻ, mẹ đẻ, cha vợ hoặc cha chồng, mẹ vợ hoặc mẹ chồng, người khác mà đối tượng này có trách nhiệm nuôi dưỡng, nếu dưới 60 tuổi đối với nam, dưới 55 tuổi đối với nữ và bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên.
 
Thân nhân quy định tại các điểm b, c, d khoản này phải không có thu nhập hoặc có thu nhập hàng tháng, nhưng thấp hơn mức lương tối thiểu chung.
 
Trường hợp người lao động chết không đủ điều kiện để thân nhân được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng hoặc có đủ điều kiện hưởng trợ cấp tuất hàng tháng, nhưng không có thân nhân đủ điều kiện nhận trợ cấp tuất hàng tháng thì thân nhân của lao động này sẽ được nhận trợ cấp tuất một lần (điều 38 Nghị định 152/2006/NĐ-CP của Chính phủ).
 
Tuy nhiên, bạn cũng cần tham khảo thêm, ngay từ khi có Pháp lệnh thừa kế năm 1990 thì tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19-10-1990 của Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của Pháp lệnh thừa kế này đã xác định tiền tuất không phải là di sản.
 
Như vậy, căn cứ vào quy định của pháp luật và phân tích của chúng tôi nêu trên, tiền tuất không được xác định là di sản; do đó, bạn không thể lập di chúc để lại thừa kế đối với khoản tiền trợ cấp này.
         
Bùi Vĩnh (ghi)     
 
Chia sẻ bài viết


ĐỒNG HÀNH CÙNG DOANH NGHIỆP