Chính trị - Xã hội Chính trị - Xã hội

06/02/2019 - 13:00

“Chín anh em” tựa lưng giữa đồi

TTH - Tuy cuộc sống chưa thật sự sung túc nhưng từ cuộc “thiên di” năm nào, tình người với đất Hồng Tiến (TX. Hương Trà) vẫn cứ vấn vít lấy nhau.

Các dân tộc anh em cùng nhau đoàn kết

Cuộc thiên di “định mệnh”

Nếu A Lưới là đỉnh núi thì Hồng Tiến chỉ tựa lưng đồi. Người dân Hồng Tiến cũng tứ phương quần tụ và sinh sống nơi sườn đồi khô cằn, sỏi đá này.

Ông Lê Văn Đài, người dân tộc Pa Hy định cư ở Hồng Tiến sớm kể, dân Hồng Tiến chủ yếu di cư từ A Lưới, Phong Mỹ (Phong Điền), TP. Huế và số còn lại thuộc gốc gác các tỉnh thành khác. Có lẽ bởi thế mà nơi đây hội tụ nhiều dân tộc anh em sinh sống. “Sau giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, đất Hồng Tiến cỏ cây um tùm, chẳng lối đi. Ở những vùng gò đồi khác, nhiều người tìm đến khai hoang, phục hóa thì đất tại đây chẳng ai ngó ngàng”, ông Đài nói.

Ông Đài là một trong ít người dám “liều” vỡ đất, dựng nhà. Số hộ dân cùng “liều” theo ông năm ấy đếm trên đầu ngón tay. Từ cuộc “thiên di” đó, giờ đây gia đình ông phất lên nhờ đất và rừng. Nếu như với đồng bào dân tộc thiểu số, núi rừng như bầu sữa mẹ chẳng muốn tách rời thì cách nghĩ của ông Đài và nhiều người Pa Hy ở Hồng Tiến lại khác. “Lúc về đây nhiều người nói tui điên bởi trước đó, có nhà cửa ở A Lưới và đời sống ổn định nhờ sản vật từ rừng. Hồng Tiến gần với đồng bằng hơn, thuận lợi hơn ở nơi cũ, cũng được mở mang đầu óc để làm ăn”, ông Đài chia sẻ.

Thời vỡ đất Hồng Tiến không chỉ có người Pa Hy mà còn nhiều dân tộc anh em khác, từ đồng bào người Kinh đến người Vân Kiều, Tà Ôi, Mường, Cơ Tu…Ông Đinh Văn Lựu giới thiệu về mình như đùa: “Trên giấy tờ tui là dân tộc Kinh, gốc gác là dân tộc Mường, có thời gian sống chung với người Rục”. Tìm hiểu tại UBND xã Hồng Tiến trường hợp như ông Lựu không phải chỉ một.

Ông Lựu kể, quê ở Minh Hóa (Quảng Bình), sau Cách mạng tháng Tám – 1945, tổ tiên ông sống ở một thung lũng bên sườn đồi với người Rục và một số hộ dân người Kinh. Khi ông sinh ra được một người Kinh họ Đinh nhận nuôi. “Tui có thể nói 3 thứ tiếng, tiếng Mường, tiếng Việt và tiếng Rục”, ông Lựu khoe, rồi nói một tràng bằng tiếng Mường để minh chứng.

Bén duyên với vùng đất Hồng Tiến từ những thập niên 90, ông Lựu bảo, vì tìm sinh kế, miếng ăn mà dắt díu gia đình vào đây sinh sống. “Không hiểu sao tui lại chọn Hồng Tiến, chắc là có duyên”, ông cười. Lúc ông đặt chân đến, Hồng Tiến xác xơ, đất cho không ai thèm. Ấy thế mà một tay ông gầy dựng đến cả mấy chục ha rừng, trở thành một trong những hộ khá giả nơi đây. “Khi đến vùng đất mới, trong lời chia tay với xóm giềng, tui bảo nếu chưa thành công thì sẽ chưa trở về”, ông quả quyết. Bây giờ, ông xem Hồng Tiến như quê hương thứ hai của mình. Mẹ qua đời, ông mang vào chôn cất ở sườn đồi, nơi ông đã tìm được cái ăn. “Hai đứa con đầu đều học đại học, đứa con út đang học lớp 8. Tui sẽ cố gắng làm ăn, con cái thành gia thất mới yên tâm. Khi đó mới được coi là thành công, và trở lại quê nhà như lời hứa năm xưa”, ông Lựu trải lòng.

Hồng Tiến tuy giáp đồng bằng nhưng vẫn “ăn của rừng”. Ở đó có những cuộc gặp xem như định mệnh. Hơn 15 năm trước, chị Hồ Thị Chung (quê ở Tân Kỳ, Nghệ An), cô gái vừa quá đôi mươi người dân tộc Thổ vì cái ăn, vượt rừng, theo chủ keo tràm làm thuê kiếm sống. Số trời đẩy đưa, gặp chồng người Pa Hy rồi kết tóc se duyên. Họ chọn Hồng Tiến là nơi sinh sống, và dẫu ít nhiều có sự ngăn cách về văn hóa, đời sống giữa hai dân tộc nhưng vùng đất này giúp họ tựa lưng vào nhau. “Ngoài vợ chồng em, còn một số cặp vợ chồng khác cũng được số trời đưa đẩy nên đôi nên đũa như ri. Vì cái ăn, băng rừng vượt suối rồi gặp nhau. Trước đó, có ai nghĩ người Thổ ở miền núi Nghệ An xa xôi lại gặp người Pa Hy ở Huế mô”, chị Chung tâm sự.

Đa sắc nhưng một khối

Dân số Hồng Tiến chỉ bằng một thôn thuộc loại khá ở miền xuôi, tỉ lệ hộ nghèo, cận nghèo chiếm đến hơn một nửa. Đó là thực tế! Nhưng ông Lê Viết Hương bảo: “Thay đổi nhiều rồi đó anh! So với miền xuôi thì không bằng nhưng ít ra Hồng Tiến bây giờ đã khác xưa. Mặc dù dân số ít nhưng ở vùng đất này, 9 dân tộc anh em đang sinh sống”.

Thống kê của vị Bí thư Đảng ủy xã, nơi đây người Kinh, Pa Hy, Pa Cô, Tà Ôi, Cơ Tu, Vân Kiều, Mường, Thổ, Nùng đang cùng “chung sống”, tôi thắc mắc: “Bản sắc văn hóa, phong tục tập quán có khác biệt lắm không? Làm sao để hòa hợp?”. Ông Hương thông tin: “Ở Hồng Tiến người Kinh và Pa Hy có 743 khẩu, 339 khẩu còn lại là những dân tộc khác. Các dân tộc vẫn giữ bản sắc riêng nhưng cùng chung người Việt, dùng chung ngôn ngữ tiếng Việt nên không nhiều trở ngại”.

Nhắc đến ngôn ngữ, lúc chuyện trò với ông Đinh Văn Lựu, ông bảo, tiếng Mường tựa tựa tiếng Việt nhưng người Mường “cấm” pha giọng. Thế nên, các con ông dù hiểu tiếng Mường, bập bẹ khi nói nhưng ông cấm… giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ. “Chửi cha không bằng pha giọng”, người Mường kiêng cữ khi pha giọng, nếu nói không được thì không được nói. Vì chưa sành sỏi nên tui không cho phép con tui nói tiếng Mường với người khác, sợ sẽ có lỗi với tổ tiên. Vợ chồng tui lập nghiệp ở vùng đất mới nhưng vẫn ghi nhớ gốc tích và phong tục của người xưa”, ông Lựu giải thích.

Mặc dù mỗi dân tộc đều có nét đặc trưng riêng, nhưng cứ dịp vào lễ hội, dân làng lại tập trung cùng nhau múa hát, uống rượu cần dưới chân đồi. Thói quen này trở thành nếp sống, nếp nghĩ ở Hồng Tiến từ bao đời nay. Hoa văn thổ cẩm các dân tộc có khác nhau thì cũng đều được làm thủ công, mang hơi thở của núi rừng. Ông Nguyễn Văn Nhất, Chủ tịch UBMTTQ xã Hồng Tiến cho biết, vào ngày hội đại đoàn kết vừa qua, các dân tộc anh em cùng nhau quây quần bên chén rượu, điệu múa và lời hát, tuy khác nhau nhưng người dân đều hướng điều tốt đẹp, tôn trọng bản sắc của nhau và xóa bỏ hủ tục lạc hậu. “Lúc tui lấy chồng, mẹ có tặng một vuông thổ cẩm của người Thổ, tiếc rằng đã bị thất lạc. Sinh sống ở đây, trong làng người dân cũng gắn bó giúp đỡ lẫn nhau giống như ở quê. Mỗi dân tộc đều có cái hay cái đẹp cần lưu giữ. Tụi tui không phân biệt các dân tộc khác nhau mà đều nghĩ đều là dân tộc Việt Nam”, chị Chung chia sẻ.

Mang chuyện nhiều dân tộc sống chung với nhau ở xã Hồng Tiến trao đổi với TS. Nguyễn Thị Sửu, Bí thư Huyện ủy A Lưới, bà cho biết, Việt Nam có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, và là một khối thống nhất, theo chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước. “Cái nôi của đồng bào dân tộc thiểu số của Thừa Thiên Huế là ở A Lưới. Còn xã Hồng Tiến từ sau năm 1990, các đồng bào dân tộc cùng sống chung với nhau do du cư, hôn nhân, điều kiện cuộc sống từng vùng miền. Như người Cơ Tu ở thôn 4, Hồng Tiến là do di cư từ Nam Đông, Hương Lâm (A Lưới) xuống. Việc nhiều đồng bào cùng sống chung một làng thì phải tuân thủ bản sắc từng dân tộc nhưng đó không phải trở ngại vì vốn Việt Nam đã đa dạng bản sắc các dân tộc”, bà Sửu khẳng định.

Bài, ảnh: Quỳnh Viên

Chia sẻ bài viết


ĐỒNG HÀNH CÙNG DOANH NGHIỆP