Văn hóa - Nghệ thuật Tác giả - Tác phẩm

12/07/2020 - 12:25

Huế - niềm ký ức ngọt ngào

TTH - Tôi, người đàn ông trên 60 tuổi, gặp lại em, người phụ nữ bước sang tuổi 58, một người bạn đặc biệt thưở bé. Ngót nghét 48 năm, cứ ngỡ tôi đã xa, đã mất đi người bạn quý thời thơ ấu.

Tình cờ, tôi gặp lại em trên facebook và giờ tôi đang ở Huế. Nơi mà qua em và gia đình em, tôi đã yêu quý mảnh đất này từ hơn 40 năm qua, được thấy Huế trong chừng ấy năm tưởng tượng, Huế là nơi tôi luôn ước mơ một lần được đến. Ngày ấy, chiến tranh đã đưa em đến gặp tôi.

Năm 1972, em từ Hà Nội, lên quê tôi (Phú Thọ) sơ tán. Quê tôi là vùng trung du nên ngoài việc học, tôi hàng ngày lên rừng lấy củi về bán kiếm tiền phụ giúp gia đình. Lúc ấy, đang thời điểm nghỉ hè, em và lũ trẻ hàng xóm hay theo chúng tôi lên rừng. Rừng rất gần nhà chúng tôi, chỉ đi bộ khoảng 20 phút là đến.

Em leo dốc không quen. Tôi chạy lên đỉnh dốc quăng xuống cho em một sợi dây thừng to và bền. Phía dây bên kia em nắm chặt sợi dây và được tôi kéo lên. Em bước vào rừng, một thế giới cổ tích với bao điều bỡ ngỡ, lạ lẫm và hấp dẫn. Em say sưa hái những bông hoa chuối đỏ tươi. Sững sờ trước những rừng cọ, đồi chè bạt ngàn, xanh mướt. Lắng nghe và hót theo tiếng các loại chim rừng. Em giả tiếng chim chào mào rất giống, đến nỗi mỗi lần em cất tiếng hót là chim chào mào hót theo xao động cả một góc rừng. Em theo chúng tôi lấy măng giang, lấy củi, hái nấm mối, quả rừng và không bao giờ quên hái lá chè xanh đem về để bố mẹ nấu nước uống. Tôi hơi ngạc nhiên, vì người ở  ngoài này chỉ quen uống nước trà, chứ uống chè xanh thì hiếm.

Em đến đây đúng vào mùa sim chín. Ánh mắt của em sáng bừng khi nhìn thấy những quả sim tròn, chín mọng trên cành cây. Em ăn ngon lành những trái sim chín. Vừa nhấm nháp, xuýt xoa. Môi và răng cũng tím theo, nhìn em lạ lùng, đáng yêu vô cùng. Chán sim, chúng tôi nhổ sắn, nấm mối, bẫy gà rừng nướng mời em. Khế chua, khế ngọt, dâu da và nhiều quả rừng hào phóng thết đãi em. Ăn xong, em uống nước suối một cách sảng khoái. Những giọt nước tinh khiết  đầu nguồn chảy từ rừng sâu! Có lúc, em rời chúng tôi đi lang thang một mình. Ngó nghiêng hết bụi cây này đến bụi cây khác. Tôi hoảng hốt đi tìm em vì sợ gặp phải lợn rừng. Thấy vẻ mặt căng thẳng của tôi, em bảo: Em đi tìm con hoẵng. “Sao em biết con này”? Tôi hỏi. “Mấy hôm nằm ngủ, em nghe tiếng con thú kêu suốt đêm. Em hỏi mẹ em, mẹ em bảo là con hoẵng”. “Nó ở xa, trên núi cao. Chỗ này không có”. Tôi nói. Em hỏi tôi rất nhiều thứ liên quan đến rừng”. Bé tí mà suy nghĩ chẳng ngây thơ tí nào. Cô bé đấy cá tính”. Tôi nghĩ và vui về người bạn bé nhỏ của mình.

Khi về, em ngồi trên bó củi để tôi kéo xuống. Mỗi lần vậy em cười nắc nẻ. Tiếng cười trong trẻo của em cứ vang mãi theo tôi suốt sau này. Mùa đông giá lạnh, tranh thủ ngoài giờ học, chúng tôi vẫn lên rừng tìm kế sinh nhai. Em và lũ trẻ bận học, nhưng thỉnh thoảng vẫn theo chúng tôi lên rừng. Lúc này em không cần tôi kéo, mà dùng cây gậy chống đi lên dốc. Trời lạnh, em đội mũ len kín tai, hai má và môi đỏ ửng. Mặc áo bông lùm xùm. Nhìn em như búp bê, tôi trêu: “Nhìn như bà già ấy”. Em lại cười. “Vậy anh kéo dây em lên đi”. Tôi xua tay: Mệt!

Tôi hơn em 5 tuổi, học lớp 7 (bằng lớp 9 bây giờ) em học lớp 4, chơi thân với em nhất trong đám. Nhà em (chỉ là ngôi nhà tạm làm gấp ở tạm thời trong những ngày sơ tán) ở ngay chân đồi, cũng là đường đi lên rừng. Cứ mỗi lần sau khi từ rừng về, tôi nghỉ giải lao lại vào nhà em chơi, uống nước, nói chuyện và mượn sách về đọc. Ngày đó, sách cho thiếu nhi hiếm lắm, chủ yếu sách nước ngoài của người lớn.“Tuổi trẻ Các Mác”, “Ruồi trâu”, “Thép đã tôi thế đấy”, “Xa Mạc Tư Khoa”... Tôi thích nhất tiểu thuyết “Bên kia biên giới” của Phan Tứ, “Cái sân gạch và vụ lúa chiêm” của Đào Vũ… là tủ sách của các anh, chị trong gia đình em. Hèn gì mới 10 tuổi mà em nhận thức và nói chuyện khá già dặn so với các bạn cùng lứa với em. 

Đến nhà em, tôi luôn gặp bố mẹ của em. Hai ông bà đều rất đẹp. Mẹ em có phong thái dịu dàng. Họ nói giọng miền Trung mà sau này tôi biết là giọng Huế. Bố mẹ em từ Huế tập kết ra Bắc năm 1954. Giọng Huế nghe nhẹ và ấm hơn giọng các tỉnh miền Trung khác. Em gọi bố là ba. Ba em hay nghe radio. Đặc biệt, khi có chương trình ca Huế là ông bỏ hết mọi công việc khác để ngồi nghe say sưa.

Thỉnh thoảng, ông lại kể cho chúng tôi về quê hương mình qua nỗi nhớ thương đau đáu. Từ đó, tôi biết thêm về Huế với cây cầu Trường Tiền sáu vài, mười hai nhịp, về chùa Thiên Mụ, núi Ngự Bình và kẹo mè xửng. Biết những cô gái Huế với áo dài tím dịu dàng. Những o, những mệ gánh hàng bán rong vẫn mặc áo dài lịch sự. Tôi yêu Huế từ đó và thường tự tìm đọc những tài liệu viêt về Huế. Tôi còn hiểu về phong trào đấu tranh anh dũng của sinh viên Huế. Tinh thần bất khuất của 11 cô gái sông Hương, của người Huế trong chiến dịch Mậu Thân 1968...

Đầu mùa xuân 1973, em bảo: “Ba mẹ em nói là Hiệp định Paris sắp ký rồi. Mỹ thất bại, nhà em sắp về lại Hà Nội”.

- Bao giờ nhà em về? Tôi hỏi.

- Em chưa biết.

Cả một tuần, tôi bận nên không đi rừng. Hôm ấy tôi trở lại rừng, linh tính có điều gì không ổn. Đúng vậy, đến nhà em thấy trống hoắc. Chẳng còn lại đồ đạc gì trong nhà. Hiệp định Paris đã ký từ nửa tháng nay. Mỹ ngừng ném bom miền Bắc. Người Hà Nội đi sơ tán đã về lại Thủ đô. Gia đình em cũng về từ khi nào. Em vội vàng, không một lời từ biệt. Từ đó, chúng tôi mất liên lạc. Bao nhiêu lần về Hà Nội, tôi không biết tìm em ở đâu. Vẫn luôn nhớ về cô bé “sơ tán” ngày ấy...

Em đưa tôi thăm các lăng tẩm và chùa Huế. Đến đâu, tôi cũng cảm nhận được sự tinh tế, sâu sắc của người Huế trong từng tác phẩm lâu đài, lăng mộ, chùa Huế. Trước khi vào Huế, tôi đọc thêm một số tài liệu để hiểu thêm về vùng đất này. Tôi hiểu sâu sắc một tác giả đã viết: Cái vẻ cuốn hút của xứ Huế không chỉ đến từ thiên nhiên phong cảnh hữu tình nơi đây, nó còn đến từ tất cả những giá trị văn hóa của vùng đất Cố đô này. Con người Huế đã tạo ra Huế hay chính vùng đất đã tạo nên con người, câu hỏi này thật khó trả lời. Nhưng ta có thể khẳng định rằng, mỗi giá trị văn hóa của xứ Huế đều thực sự là những di sản vô giá, không thể nào đong đếm được.

Tôi càng trân trọng sự tinh tế, sâu sắc của phụ nữ  Huế hiển hiện trên mỗi chiếc bánh bèo, bánh nậm, bánh lọc và ly chè bông cau. Mỗi một món ăn Huế đều có những gia vị đặc trưng, khi đã thưởng thức một lần thì khó có thể quên được.

Đêm chúng tôi dạo trên cây cầu gỗ lim xinh đẹp, lộng lẫy. Gió sông Hương trong đêm hè mát rượi. Bỗng nhớ về bút ký “Ai đã đặt tên cho dòng  sông”, một tác phẩm uyên bác, giàu chất thơ của nhà văn tài hoa Hoàng Phủ Ngọc Tường đã làm tôi yêu say mê dòng sông này. Giờ tôi đang chạm tay vào sông Hương hiền dịu, êm đềm, thơ mộng, quyến rũ, thân thương với cảm giác bồi hồi, hạnh phú cả... “sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”. Lúc này, tôi mới hiểu hết nghĩa câu thơ của nhà thơ Thu Bồn.

Cứ tưởng xa cách quá lâu chúng tôi phải giữ kẽ, nhưng càng nói chuyện, chúng tôi càng gần gũi, thân thiết như ngày bé thơ. Em cảm động khi nghe tôi thông báo tình hình nơi ngày xưa em đã sống. Mái nhà dưới chân đồi em ở, con đường heo hút trước mặt nhà em giờ trở thành một khu phố hiện đại, sang trọng, đẹp đẽ. Ban đêm về ánh điện sáng và dòng người tấp nập với nhiều phương tiện giao thông. Không còn cảnh  tối tăm và tiếng hoẵng kêu như ngày xưa. Em hỏi rất kỹ từng thầy cô giáo đã dạy dỗ em. Giờ họ đã già cả rồi. Có người đã về thế giới bên kia. Hỏi thăm từng người bạn thân. Gần 50 năm qua, em vẫn còn nhớ rõ tên từng người. Ngày ấy em thân với một người bạn trùng họ và tên với em. Giờ biết tin cô ấy thành người thiên cổ, em cứ khóc mãi...

Chỉ 5 tháng sơ tán lên quê tôi, nhưng em và tôi trở thành bạn vong niên, tri kỷ. Gặp lại em, tôi được về Huế, hiểu thêm về văn hóa Huế, cốt cách Huế, để thêm yêu cháy bỏng vùng đất nhân kiệt, thơ mộng và đầy lãng mạn này!

Huế mãi là niềm ký ức ngọt ngào trong tôi!

ĐINH HOÀNG XUÂN HỒNG

Chia sẻ bài viết


ĐỒNG HÀNH CÙNG DOANH NGHIỆP