Chính trị - Xã hội Chính trị - Xã hội

25/03/2018 - 14:46

Sửa đổi bất cập về thời gian tính trợ cấp thôi việc

Tại dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12-1-2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ Luật Lao động, Bộ LĐ-TB-XH đề xuất sửa đổi thời gian tính trợ cấp thôi việc (TCTV).

Bộ LĐ-TB-XH cho biết theo quy định tại Nghị định số 05/2015/NĐ-CP thì thời gian làm việc để tính TCTV, trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động (NLĐ) đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động (NSDLĐ) trừ đi thời gian NLĐ đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) theo quy định của pháp luật và thời gian làm việc đã được NSDLĐ chi trả TCTV. Trong đó, thời gian NLĐ làm việc thực tế cho NSDLĐ bao gồm cả thời gian thử việc, học nghề, tập nghề để làm việc cho NSDLĐ; thời gian nghỉ hưởng chế độ theo quy định của Luật BHXH, thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản hoặc ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên không hưởng tiền lương tháng tại đơn vị mà hưởng trợ cấp BHXH.

Tuy nhiên, quy định về cách tính thời gian NLĐ làm việc thực tế cho NSDLĐ đang bộc lộ một số vướng mắc, khó khăn khi tính TCTV cho NLĐ, vì các lý do sau:

- Thời gian NLĐ thử việc, học nghề, tập nghề để làm việc cho NSDLĐ và thời gian NLĐ nghỉ việc hưởng chế độ thai sản hoặc ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên không hưởng tiền lương tháng tại đơn vị mà hưởng trợ cấp BXXH thì NLĐ không thuộc đối tượng tham gia đóng BHTN theo Điều 11 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ.

- Dù thời gian NLĐ nghỉ việc hưởng chế độ thai sản không thuộc đối tượng tham gia đóng BHTN nhưng thời gian này được tính là đã đóng BXH hội, theo đó đối với giai đoạn trước khi Luật Việc làm có hiệu lực thi hành thì thời gian nghỉ thai sản được tính là thời gian đã tham gia BHTN theo Luật BHXH năm 2006.

- Thời gian này thường ngắn (từ 1 - 6 tháng), khi tính TCTV thường phải làm tròn thành nửa năm, gây vướng mắc cho NSDLĐ, đồng thời làm tăng chi phí của doanh nghiệp (DN) khi chi trả TCTV cho NLĐ, trong khi phần lớn thời gian NLĐ thực tế làm việc đã được NSDLĐ tham gia đóng BHTN.

Bộ LĐ-TB-XH đề xuất sửa đổi thời gian tính TCTV theo hướng thời gian làm việc thực tế cho NLĐ không bao gồm: thời gian thử việc, học nghề, tập nghề để làm việc cho NSDLĐ

Vì vậy, Bộ LĐ-TB-XH đề xuất sửa đổi thời gian tính TCTV theo hướng thời gian làm việc thực tế cho NLĐ không bao gồm: thời gian thử việc, học nghề, tập nghề để làm việc cho NSDLĐ; thời gian nghỉ hưởng chế độ theo quy định của Luật BHXH để tạo điều kiện cho DN khi giải quyết chế độ TCTV cho NLĐ.

Cụ thể, theo dự thảo, thời gian làm việc để tính TCTV, trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian NLĐ đã làm việc thực tế cho NSDLĐ trừ đi thời gian NLĐ đã tham gia BHTN theo quy định của pháp luật và thời gian làm việc đã được NSDLĐ chi trả trợ cấp thôi việc. Trong đó, thời gian NLĐ đã làm việc thực tế cho NSDLĐ bao gồm: thời gian NLĐ đã làm việc cho NSDLĐ; thời gian được NSDLĐ cử đi học được hưởng nguyên lương; thời gian nghỉ hàng tuần theo Điều 110, nghỉ việc hưởng nguyên lương theo Điều 111, Điều 112, Điều 115 và Khoản 1 Điều 116 của Bộ Luật Lao động; nghỉ để hoạt động Công đoàn theo quy định của pháp luật về Công đoàn; thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của NLĐ; thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc và thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội.

Thời gian NLĐ đã tham gia BHTN bao gồm: Thời gian NLĐ đã đóng BHTN theo quy định của pháp luật và thời gian NLĐ được NSDLĐ chi trả cùng lúc với kỳ trả lương một khoản tiền tương đương với mức đóng BHTN theo quy định của pháp luật. Thời gian làm việc để tính TCTV, trợ cấp mất việc làm của NLĐ được tính theo năm, trường hợp có tháng lẻ thì từ đủ 1 tháng đến dưới 6 tháng được tính bằng 1/2 năm; từ đủ 6 tháng trở lên được tính bằng 1 năm làm việc.

Theo NLĐ

 

Chia sẻ bài viết


ĐỒNG HÀNH CÙNG DOANH NGHIỆP