25/11/2014 - 16:50

Sức khoẻ, tâm lý và phát triển tuổi vị thành niên

TTH - Vị thành niên (VTN) là khoảng thời gian phát triển nhanh chóng về thể chất, cảm xúc, trí tuệ, xã hội, đạo đức, tinh thần và hình thức. Ðây là một khoảng thời gian họ cần có môi trường an toàn và hỗ trợ để thúc đẩy hành vi tốt cho sức khoẻ và phát triển.

Trong thời kỳ VTN, khám phá và thể hiện tình dục là phổ biến và bình thường. Các mối quan hệ tình dục trong thời kỳ VTN có thể trong hoặc ngoài hôn nhân. Thái độ của thanh niên đối với tình dục thay đổi rất nhanh chóng trên toàn thế giới và ngay ở Việt Nam.

Các yếu tố văn hoá, áp lực nhóm đồng đẳng, sự phá vỡ của cấu trúc gia đình truyền thống, di cư và đô thị hoá là một số yếu tố xã hội thúc đẩy mong muốn và cơ hội cho các hoạt động tình dục. Tất cả những yếu tố đó đã góp phần làm cho VTN tiếp cận được các vấn đề về tình dục và sinh sản một cách dễ dàng nhưng thiếu chọn lọc đã tác động tiêu cực đến hành vi tình dục là VTN.
Kết quả của thay đổi hành vi tình dục là VTN phải đối mặt với một số nguy cơ y tế cộng đồng như: các nhiễm khuẩn lây qua đường tình dục, bao gồm cả HIV, mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai không an toàn và các vấn đề sức khoẻ tâm thần.
Sức khoẻ sinh sản và sức khoẻ tình dục là những chủ đề then chốt trong sức khoẻ và phát triển VTN, bởi vì các nguy cơ sức khoẻ mà chúng mang đến cho VTN là những nguy cơ đe doạ sự sống:
Mang thai VTN có thể làm cho cả mẹ và con nguy cơ mắc bệnh và tử vong cao. Khung xương chậu phát triển chưa hoàn chỉnh có thể dẫn tới đẻ khó hoặc kéo dài thời gian chuyển dạ, mà các biến chứng kèm theo có thể có như băng huyết, thậm chí tử vong cho cả mẹ và con.
Nạo thai không an toàn có thể dẫn đến các biến chứng: băng huyết, nhiễm trùng máu, chấn thương, vô sinh, và thậm chí là tử vong. Ngoài ra, phá thai có thể để lại những hậu quả tâm lý như trầm cảm và tự tử.
Các nhiễm khuẩn lây qua đường tình dục có thể dẫn tới ung thư cổ tử cung, các bệnh nhiễm khuẩn tiểu khung (PID), chửa ngoài tử cung. Cả nam và nữ VTN đều có nguy cơ mắc các nhiễm khuẩn lây qua đường tình dục. Tuy nhiên, nữ giới dễ bị mắc hơn bởi vì cơ chế bảo vệ chưa phát triển đầy đủ (thiếu chất nhầy bảo vệ, màng nhầy cổ tử cung chưa phát triển đầy đủ, màng bảo vệ mỏng và độ acid thấp vùng âm đạo). Đối với nữ, nếu không được điều trị các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục, có thể dẫn tới các hậu quả như ung thư cổ tử cung, các bệnh viêm nhiễm vùng tiểu khung, chửa ngoài tử cung, vô sinh và tăng các nguy cơ nhiễm HIV và lây truyền từ mẹ sang con.
Nhiễm HIV đang có xu hướng trẻ hóa, có thể gây tử vong. Mang thai mắc các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục và các bệnh liên quan đến HIV làm tăng các chi phí về chăm sóc sức khoẻ. Trẻ em sinh ra từ các bà mẹ ở tuổi VTN có nhiều nguy cơ mắc bệnh, và đòi hỏi phải có nhiều chăm sóc về y tế hơn.
Muốn nâng cao sức khoẻ tình dục và sức khoẻ sinh sản VTN đòi hỏi một loạt các giải pháp. Các giải pháp chính bao gồm:
Cung cấp cho VTN các thông tin về cơ thể, tình dục, sinh sản, các hậu quả của hành vi tình dục, cách sử dụng các biện pháp tránh thai, kế hoạch hoá gia đình và tình dục an toàn.
Phát triển tự trọng cá nhân, ra quyết định và các kỹ năng thoả thuận giúp họ có sư lựa chọn tốt hơn để phòng tránh việc mang thai sớm, phá thai không an toàn, mắc các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục, bạo lực và lạm dụng tình dục.
Cải thiện các dịch vụ y tế trở nên thuận lợi và dễ tiếp cận đối với VTN. Những dịch vụ này nên thân thiện và không thành kiến với VTN. Các dịch vụ phải dễ tiếp cận đối với VTN. Các dịch vụ sức khoẻ phải có khả năng cung cấp các biện pháp tránh thai như bao cao su, viên thuốc tránh thai cho VTN nếu được yêu cầu. Các cán bộ cần giải thích các ưu, nhược điểm của từng biện pháp tránh thai.
Tạo môi trường hỗ trợ sẽ cho phép VTN đặt các câu hỏi về sức khoẻ tình dục và sức khoẻ sinh sản khi người lớn tỏ ra cởi mở với họ và không thành kiến với những hành vi nguy cơ.
Tăng cường sự phối kết hợp của các ban, ngành, đoàn thể trong việc nâng cao sức khoẻ tình dục và sức khoẻ sinh sản VTN. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Kết hợp giáo dục sức khoẻ tình dục và sức khoẻ sinh sản với phát triển các kỹ năng sống trong chương trình giáo dục của nhà trường.
Chủ đề Ngày Dân số Thế giới năm nay “Đầu tư cho thanh niên” là đầu tư về y tế, giáo dục và việc làm, trong đó chăm sóc sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục đóng một vai trò quan trọng. “Đầu tư cho thanh niên” là đầu tư cho cuộc sống của chúng ta và con cháu mai sau, là đầu tư cho thế hệ tương lai của đất nước.

Ths.Bs Phan Đăng Tâm - Giám đốc Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe tỉnh

Chia sẻ bài viết


ĐỒNG HÀNH CÙNG DOANH NGHIỆP