Cây đa có tán lá rộng khoảng 35m, rễ chính và rễ phụ ôm gọn vào 6 hòn đá hoa cương kết thành khối có chu vi khoảng 27m, chiều cao các tảng đá chừng 3m. Dưới gốc cây đa hiện có miếu thờ Bà Thủy của ngư dân làng Đá Bạc góp công, góp của xây dựng cách đây 120 năm, để cầu cho mưa thuận gió hòa, được mùa tôm cá. Năm 2013, miếu được người dân đóng góp, tu sửa mới, là nơi hương khói tín ngưỡng của người dân địa phương và du khách khi viếng thăm cây đa Đá Bạc.

Làng Đá Bạc được thành lập khoảng thế kỷ XV, vào thời nhà Lê (1470), lấy tên là làng Bạch Thạch, có nghĩa là “đá bạc”. Hiện nay, phía ngoài đầm Cầu Hai có một hòn đảo nhỏ vẫn còn nguyên 05 hòn đá trắng, lấy ý nghĩa đó đặt tên cho làng, được người dân lập miếu hương khói. Khoảng thế kỷ XVII - XVIII, dân làng Đá Bạc ngày càng đông và đi vào ổn định, để cắm mốc ranh giới giữa làng này với làng khác, các cụ trong làng đã chọn cách trồng 3 loại cổ thụ: đầu làng trồng cây thị, giữa làng cây gõ và cuối làng trồng cây đa; và bến cây đa Đá Bạc là điểm cuối làng được Bộ Văn hoá - Thông tin công nhận là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia theo Quyết định số 866-QĐ/VH ngày 20/5/ 1991.
Bến cây đa Đá Bạc có tiếng linh thiêng, lau sậy um tùm, nằm gần núi, là địa điểm lý tưởng để Việt Minh quan sát, mặt giáp biển là bến đò nên cũng dễ dàng giấu mình mai phục. Các cụ cao niên kể lại trong khoảng thời gian (1910 - 1930) đã nhiều lần nhìn thấy Việt Minh mai phục ném thủ pháo, nổ tan xe giặc và rất nhiều lính Pháp bị tiêu diệt tại địa điểm bến cây đa.
Bến cây đa Đá Bạc còn là bến đò đưa đón cán bộ cách mạng qua về hoạt động giữa khu 1, khu 3 (Phú Lộc) và nhiều vùng lân cận như Con Quan, Phú Thứ (Phú Đa, Phú Vang) trong khoảng những năm 1946 - 1970. Theo lời kể của cụ Lê Vụ, cụ làm nghề chài lưới nên quanh năm ở dưới nôốc, điểm neo đậu nôốc của cụ ngay bến cây đa Đá Bạc hiện nay. Vì công việc đánh cá nên cụ thường xuyên đi lại các vùng mà quân Pháp, sau này là Mỹ - nguỵ không nghi ngờ, nhờ đó mà hơn 20 năm nghề chài lưới, cụ đã nhiều lần chở cán bộ cách mạng qua về đầm phá để hoạt động. Mỗi lần sắp đi, các đồng chí cách mạng đứng dưới gốc cây đa và ra mật hiệu riêng để cụ biết mà chèo vô. Khi cách mạng có trên nôốc thì cụ và các đồng chí phải nguỵ trang bằng nhiều cách như mặc áo dài giả như đi ăn giỗ, đám cưới nhằm qua mắt quân địch.
Thấy bến cây đa Đá Bạc là điểm trọng yếu của tuyến đường Bắc - Nam, nơi có nhiều cây cối lau sậy dễ ẩn nấp, là địa điểm lý tưởng để cách mạng hoạt động nên Pháp cho xây dựng một đồn về phía núi (cách cây đa Đá Bạc chừng 500m) thường xuyên có lính canh gác để theo dõi.
Ngày 22/3/1975, do nắm được địa thế và vị trí quan trọng về quân sự của bến cây đa Đá Bạc nên quân nguỵ chọn bến cây đa Đá Bạc là điểm ém quân, chốt giữ nhằm ngăn chặn sự tiến công của quân ta nhưng đã bị Sư đoàn 324 (Quân đoàn 2) của ta tiêu diệt, cắt đứt cánh quân của địch trên đoạn Quốc lộ 1A từ Ngã ba Ràng Bò đến bến cây đa Đá Bạc.
Ngày 25-26/3/1975, bến cây đa Đá Bạc còn là nơi chứng kiến hàng trăm lính Việt Nam Cộng hoà thất thủ, được luân chuyển từ các xã khu 3 qua bến cây đa Đá Bạc về trung tâm huyện để giải giáp sau ngày giải phóng.
Ông Đào Duy Thanh - Tổ trưởng Tổ dân phố Đá Bạc chia sẻ: “Cây đa Đá Bạc không chỉ là một chứng tích lịch sử, nó còn tạo nên giá trị kiến trúc, mỹ quan và văn hóa tín ngưỡng tâm linh của bà con dân làng Đá Bạc. Là điểm dừng chân, nghỉ ngơi lý tưởng của du khách khi đi qua tuyến QL1A”.
“Đối chiếu với các tiêu chí công nhận Cây Di sản của Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, chúng tôi nhận thấy cây đa Đá Bạc hội tụ đủ các tiêu chí của cây Di sản Việt Nam. Hy vọng cây đa Đá Bạc sẽ sớm được công nhận là Cây Di sản Việt Nam, đáp ứng nguyện vọng của người dân và chính quyền địa phương”, ông Phạm Hữu Chung - Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin huyện Phú Lộc cho biết.
Nếu được công nhận thì đây là cây thứ ba được công nhận là Cây Di sản Việt Nam ở Thừa Thiên Huế; sau cây thị họ Thân Văn ở Thủy Xuân (TP Huế) và cây thị ở làng cổ Phước Tích.
Quang Nguyễn