Quân giải phóng tiến vào cầu Tràng Tiền (Huế). (ảnh tư liệu)

Chỉ những bức ảnh tư liệu được treo trong nhà của mình, ông Nguyễn Huy Ngọc, nguyên Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, người cán bộ biệt động thành tham gia giải phóng quê hương vui vẻ: “Đây là tôi, năm xưa điều khiển chiếc xe honda có gắn lá cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đi trước dẫn đường, đón bộ đội chủ lực ở cánh Bắc tiến vào cửa An Hòa để vào tiếp quản TP. Huế”.

Trong thời khắc lịch sử ấy, trước sức tấn công rộng khắp của quân ta, cục diện chiến trường ở Thừa Thiên Huế thay đổi nhanh chóng. Quân địch bắt đầu bị vỡ trận, phải tháo chạy tán loạn. Cùng với phong trào đấu tranh công khai, rộng khắp của mọi giới, mạng lưới cách mạng của ta ngày càng phát triển. Hầu hết các khu phố, trường học trên địa bàn TP. Huế đều xây dựng được chi bộ, chi đoàn, lực lượng vũ trang, đường dây liên lạc được mở rộng, tạo điều kiện hết sức thuận lợi.

Ông Nguyễn Huy Ngọc nhớ lại: “Khó khăn lớn nhất trong giải phóng TP. Huế là từ thời gian đầu tháng 3/1975. Các ngày đó chiến trường ác liệt nhất. Đêm nào hành quân bộ đội cũng gặp địch phục kích. Vì vậy, khi bóc được tuyến ngoài rồi thì địch vỡ trận. Lúc đó chúng ta mới thuận lợi hơn”.

Theo chia sẻ của Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân, ông Lâm Bình, nguyên Phó Ban An ninh Bình Trị Thiên, cựu điệp báo viên xuất sắc của Ban điệp báo Ty Công an Thừa Thiên tại nội thành Huế và từ tài liệu lực lượng trinh sát vũ trang an ninh TP. Huế trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước (được lưu tại Phòng truyền thống Công an TP. Huế) cho thấy: Ngày 24/3/1975, lực lượng trinh sát vũ trang cả công khai và bí mật do đồng chí Trần Phong, Trưởng ban An ninh TP. Huế chỉ huy đột nhập vào thành phố chiếm giữ Ty Cảnh sát Thừa Thiên của địch ở 15 Trần Cao Vân (số cũ), Trung tâm Cảnh sát sắc phục (42 Duy Tân cũ)…; thu nhiều tài liệu quan trọng. Ngày 25/3/1975, nhiều đơn vị quân đội, đặc công, biệt động tiến vào nội thành, giải phóng thành phố.

Thắng lợi của việc giải phóng quê hương Thừa Thiên Huế đã đập tan tấm lá chắn mạnh nhất của địch ở phía Bắc Quân khu I và vùng I chiến thuật; giáng một đòn mạnh vào âm mưu co cụm chiến lược của địch ở ven biển miền Trung; tạo đà cho bước chân thần tốc của đại quân ta tiến vào Đà Nẵng, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Được sự giới thiệu của Hội Cựu chiến binh tỉnh, chúng tôi đã gặp ông Bùi Trung Thành, nguyên Trung đội trưởng Trung đội 3, Đại đội 2, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 6, Quân khu Trị Thiên, trú tại phường Phú Hậu và bà Nguyễn Thị Nghệ, nguyên cán bộ phụ vận vùng giải phóng Thừa Thiên Huế, trú tại phường Vĩnh Ninh (TP. Huế) để nghe ông và bà kể về nhiệm vụ của họ sau những ngày quê hương Thừa Thiên Huế mới được giải phóng.

Ông Bùi Trung Thành cho biết: “Cùng với các lực lượng khác, chúng tôi được phân công tiếp quản, xây dựng cơ sở vùng mới giải phóng. Khó khăn nhất thời điểm này là nắm chắc tình hình, nhất là các đối tượng ngụy quân, ngụy quyền. Chúng tôi tuyên truyền, quê hương đã giải phóng, chúng ta nên hòa hợp với nhau. Chính từ xây dựng cơ sở, tích cực vận động, nhiều đối tượng ngụy quân, ngụy quyền đã giác ngộ, giúp chúng tôi thực hiện tốt xử lý bom, mìn sau chiến tranh”. 

“Anh em chúng tôi luôn xác định, địch rút đến đâu, mình tiếp quản, xây dựng cơ sở đến đó. Không chỉ xây dựng chính quyền, chúng tôi còn tích cực tuyên truyền, vận động để người dân tin tưởng vào thắng lợi của quê hương, đất nước”, bà Nguyễn Thị Nghệ chia sẻ.

“Chiến dịch mùa Xuân năm 1975 giải phóng Thừa Thiên Huế diễn ra trong hai đợt, đợt 1 từ ngày 5 đến 14/3 và đợt 2 từ ngày 21 đến 26/3. Với sự phối hợp sức mạnh tiến công thần tốc của bộ đội chủ lực, cùng với các đội vũ trang, chính trị, biệt động ở địa phương, Nhân dân Thừa Thiên Huế đã nhanh chóng nổi dậy làm chủ chiến trường”, ông Nguyễn Trung Chính, nguyên Uỷ viên Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chính ủy Quân khu Trị Thiên, phụ trách cánh Bắc tỉnh Thừa Thiên Huế năm 1975 cho biết.

Bài, ảnh: Anh Phong