Khám phá Huế Di sản văn hóa

31/10/2012 - 16:47

Bức bình phong cổ tại dinh toàn quyền Đà Lạt

Khách du lịch đến thăm quan nghỉ dưỡng tại dinh II (Dinh Toàn Quyền) tại Đà Lạt đều có thắc mắc về một hiện vật cổ quý giá được vua Bảo Đại mang từ Huế vào Đà Lạt làm quà tặng cho toàn quyền Đông Dương nhân dịp khánh thành dinh II. Đó chính là bức bình phong cổ có nhiều họa tiết hoa văn mang phong cách của chốn đế đô cung thất hoàng triều.

Đó là tấm bình phong cổ, kê tại phòng khách Dinh II, được chế tác từ nhiều loại danh mộc quý hiếm, ghép lại với nhau bởi 10 tấm ván, mỗi tấm rộng 45cm, chiều cao 3m, có chân nên khi di chuyển có thể di chuyển cục bộ từng phần hoặc có thể tháo rời ra. Kiểu bình phong này hiện còn khá phổ biến tại Nhật Bản, Hàn Quốc.

Bức bình phong được trang trí hoa văn, hoạ tiết cầu kỳ và tinh xảo. Đây là bức thư pháp quý hiếm chạm 22 bài thơ khắc bằng đủ thể loại chữ hán: chân, hành, thảo, lệ, triện, trong đó có 12 bài thơ ngự chế của vua Tự Đức được trích từ (Tự Đức Ngự chế thi); 2 bài của Tùng Thiện Vương Miên Thẩm trích từ (Thương Sơn thi tập)… Theo nhiều người khác, chính Ngô Đình Nhu lúc đương quyền và lưu trú ở Dinh II, đã cho lấy bức bình phong từ Huế vào để trang trí. Nhưng dù là ai mang vào Đà Lạt thì sự hiện diện của cổ vật này tại Dinh II đã làm nên nhiều giá trị lịch sử cũng như ý nghĩa của nó trong hệ thống di vật cung đình tại Đà Lạt.

Theo ông Đinh Bá Quang, nguyên Trưởng phòng Quản lý di tích Sở Văn hóa Thể thao Du lịch Lâm Đồng, bức bình phong này là một cổ vật có giá trị từ thời Tự Đức được khắc các bài thơ chữ Hán của các văn nhân nổi tiếng một thời. Ngoài ý nghĩa lịch sử, nó còn có ý nghĩa truyền bá văn hóa phương đông, văn hóa Việt với quốc tế.
 
Theo TS. Nguyễn Văn Hoa, hội viên Hội nhà văn Hà Nội, tấm bình phong đặt tại dinh II Đà Lạt chắc chắn là bảo vật của cung đình Huế, thời vua Tự Đức, được trang trí cầu kỳ, tinh xảo. Đây là loại bình phong đặt trong thư phòng, có nhiều giá trị cho việc nghiên cứu văn hóa cũng như thơ văn của vua Tự Đức và một số văn nhân nổi tiếng như Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương…
 
Như vậy là ngoài việc được làm từ những tấm gỗ quý, trang trí hoa văn họa tiết cầu kì, bức bình phong còn có sự hiện diện của những bậc văn nhân nổi tiếng hay chữ giỏi thơ văn như vua Tự Đức và 2 vị Tôn thất chốn hoàng triều là Miên Thẩm và Miên Trinh, hai nhà thơ được vua Tự Đức đánh giá là: Văn như Siêu Quát vô tiền Hán, Thi đáo Tùng Tuy thất Thịnh Đường (Văn như Siêu và Quát thì đến văn đời tiền Hán cũng không có giá trị gì; Thơ đến Tùng Thiện công và Tuy Lý công thì như bỏ qua cả thời Thịnh Đường). Đặc biệt là còn có cả sự hiện diện của vị vua nổi tiếng triều Lê, giỏi thơ văn và để lại được nhiều thơ nhất trong các vị vua nhà Lê, đó là vua Lê Thánh Tông. Giá trị về mặt nội dung của bức bình phong chính là nằm ở chỗ đó. Cái giá trị văn chương mang phong cách chốn cung đình lại được tô điểm qua cách khắc họa các bài thơ lên bức bình phong cũng thật lạ. Nhiều bài thơ được khắc theo hình chiếc quạt giấy và khắc rất tinh xảo bằng các thể loại chữ khác nhau. Từ đó tạo nên một sự trang trí độc đáo sang trọng cũng như thể hiện nghệ thuật thư họa độc đáo chốn cung thất hoàng triều.
 
Trong 22 bài thơ của bức bình phong này chúng tôi đã cố gắng giải mã tiêu đề và nội dung cơ bản của mỗi bài thơ với mong muốn cung cấp thêm những giá trị văn học nghệ thuật trong sự tồn tại nội thân của nó. Những mong độc giả cùng khách lãng du khi ghé thăm Dinh II sẽ cảm thấy mãn nhãn với giá trị nội dung và nghệ thuật của cổ vật độc đáo này.
 
Thứ nhất là các bài thơ của Tùng Thiện Vương Miên Thẩm gồm các bài: Họa vịnh vũ phiến thi (vịnh về chiếc quạt lông); Ngự Bình sơn (lên núi Ngự Bình). Thứ hai là thơ của Tuy Lý Vương Miên Trinh gồm các bài: Đăng Ngự Bình sơn (Lên chơi núi Ngự Bình); Nguyên nhật đại đình sướng yến, một bài trích từ Hoàng Việt thi bài Thuận Hóa thành tức sự (làm thơ ở thành Huế), còn lại là các bài thơ Ngự chế của vua Tự Đức gồm: Hoàn phiến (quạt lụa), Cần Chánh điện triêu hạ (Chúc mừng vào buổi thiết triều sớm ở điện Cần Chánh), Vũ phiến (quạt lông), Chiêm bái Thiên Thụ lăng (thăm viếng Lăng Thiên Thọ), Ngự Bình sơn (núi Ngự Bình)…. Các bài thơ do vua Tự Đức ngự chế có nhiều chủ đề như vịnh cảnh vật ca ngợi vẻ hùng vĩ của non sông như bài núi Ngự Bình hay những bài thơ cảm tác của mình khi thăm lăng tẩm của các bậc tiền nhân mà ở đây là thăm lăng của vị vua đầu triều Nguyễn, Gia Long hoàng đế. Đặc biệt có 1 bài của vua Lê Thánh Tông được trích từ Ngự chế thi với tiêu đề là Đề phiến (đề thơ trên quạt). Còn lại là 3 bài của Bùi Văn Mạc.
 
Các bài thơ này được các thợ điêu khắc nổi tiếng khắc như Hương Nham, Tô Giang. Các nhà điêu khắc đã khéo léo vận dụng nghệ thuật thư họa để trang trí cho mỗi bài thơ có một vẻ khác nhau, có thần thái linh hồn để tạo nên một bức bình phong vừa mang tính độc đáo vừa mang tính nhân văn.
 
Bức bình phong này có từ niên đại thế kỷ XIX thời vua Tự Đức. Theo nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, bức bình phong này có lẽ là làm tặng cho vua Tự Đức đặt trong hoàng cung hoặc thư phòng của vua.
 
Quả là một hiện vật ý nghĩa cho các nhà nghiên cứu và khách thăm quan tìm hiểu về nghệ thuật trang trí điêu khắc, cũng như tìm hiểu về các họa tiết trong bức cổ vật độc đáo này.
 
Nguyễn Huy Khuyến
Chia sẻ bài viết


ĐỒNG HÀNH CÙNG DOANH NGHIỆP